Thứ ba 15/06/2021 05:28

Công tác xây dựng tổ chức Đảng và phát triển đảng viên ở DN ngoài khu vực Nhà nước

Nghiên cứu - Trao đổi - TS. Nhạc Phan Linh - ThS.Lê Thị Huyền Trang

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII (2021) khẳng định kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, nhất là trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, dịch vụ, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao. Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân hợp tác, liên kết với doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, kinh tế hộ; phát triển các công ty cổ phần có sự tham gia rộng rãi của các chủ thể xã hội, nhất là NLĐ. Cùng với phát triển kinh tế tư nhân, công tác phát triển Đảng ở khu vực này được Đảng ta đặt ra từ rất sớm.
Công tác xây dựng tổ chức Đảng và phát triển đảng viên ở DN ngoài khu vực Nhà nước

Thường trực Đảng ủy khối Doanh nghiệp tỉnh Hà Nam trao giấy chứng nhận cho các cảm tình Đảng. Ảnh: P.Hằng

Chủ trương và kết quả xây dựng tổ chức Đảng, phát triển đảng viên

Phát triển kinh tế tư nhân, định vị vai trò của kinh tế tư nhân không phải đến Đại hội XIII của Đảng mới được đặt ra, mà là chủ trương được Đảng ta đề ra và từng bước hoàn thiện từ ngay sau đổi mới. Đến nay, cộng đồng doanh nghiệp ngày càng được thụ hưởng nhiều hơn kết quả của việc cải thiện môi trường kinh doanh, nhất là việc cắt giảm điều kiện đầu tư, đơn giản hóa thủ tục hành chính và các chính sách hỗ trợ doanh nhiệp phát triển. Năm 2019 (trước khi bùng phát dịch Covid-19), có hơn 138 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với tổng số vốn đăng ký khoảng 1,7 triệu tỷ đồng và hơn 1,2 triệu lao động, tăng 5,2% về số doanh nghiệp, tăng 17,1% về vốn đăng ký và tăng 13,3% về số lao động so với năm 20181.

Cùng với việc tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển, Đảng ta cũng đặc biệt chú trọng đến công tác xây dựng tổ chức Đảng và phát triển đảng viên trong khu vực kinh tế này; xây dựng các đảng bộ, chi bộ cơ sở trong doanh nghiệp tư nhân thành hạt nhân chính trị lãnh đạo đảng viên, NLĐ; tuyên truyền, vận động chủ doanh nghiệp, các thành viên hội đồng quản trị và ban giám đốc nghiêm chỉnh chấp hành đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở doanh nghiệp; bảo vệ lợi ích hợp pháp của NLĐ, của chủ doanh nghiệp; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trong doanh nghiệp.

Nhiều Nghị quyết, Chỉ thị, Hướng dẫn về vấn đề trên được ban hành như: Hướng dẫn số 17-HD/BTCTW, ngày 30/1/2013, của Ban Tổ chức Trung ương, về “Thực hiện thí điểm việc kết nạp những người là chủ doanh nghiệp tư nhân đủ tiêu chuẩn vào Đảng”; Quy định số 170-QĐ/TW, ngày 7/3/2013, của Ban Bí thư, quy định “Chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong doanh nghiệp tư nhân”; Hướng dẫn số 12-HD/BTCTW, ngày 6/7/2018, của Ban Tổ chức Trung ương, về “Một số vấn đề về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ”. Đặc biệt, Chỉ thị số 33-CT/TW, ngày 18/3/2019 của Ban Bí thư, về “Tăng cường xây dựng tổ chức Đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân” đã đánh giá tổng quát về tình hình xây dựng Đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân, chỉ rõ những kết quả đạt được và hạn chế còn tồn tại.

Công tác xây dựng tổ chức Đảng và phát triển đảng viên ở DN ngoài khu vực Nhà nước
Năm 2019 (trước khi bùng phát dịch Covid-19), có hơn 138 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với tổng số vốn đăng ký khoảng 1,7 triệu tỷ đồng và hơn 1,2 triệu lao động. Nguồn: nhadautu.vn

Lực lượng lao động ở Việt Nam hiện nay bao gồm khoảng 53,5 - 54,0 triệu người từ 15 tuổi trở lên có việc làm; khoảng 24 - 24,5 triệu người là lao động làm công hưởng lương, trong đó CNLĐ trong các doanh nghiệp chiếm trên 60%. Cả nước có khoảng 10,3 triệu đoàn viên công đoàn. Trong nhiệm kỳ 2013-2018, các cấp công đoàn đã phát hiện, bồi dưỡng và giới thiệu 387.380 đoàn viên công đoàn ưu tú, trong đó có 276.192 đoàn viên công đoàn ưu tú được kết nạp Đảng2 (chiếm tỷ lệ 2,63%). Tính đến 01/10/2018,cả nước có 12.808 tổ chức Đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân (chủ yếu là trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước), tăng 10.799 tổ chức đảng, gấp 6,38 lần so với năm 2008 nhưng chỉ chiếm 1,49% tổng số doanh nghiệp3.

Đa số tổ chức Đảng trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước đã cụ thể hoá nhiệm vụ chính trị và xây dựng quy chế làm việc phù hợp, xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của mỗi bên trong phát triển doanh nghiệp cũng như nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Đảng. Nhiều tổ chức Đảng trong doanh nghiệp thể hiện được vai trò là hạt nhân chính trị lãnh đạo xây dựng các đoàn thể vững mạnh, nhất là tổ chức Công đoàn; kịp thời nắm bắt tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng và những kiến nghị, đề xuất của đảng viên, quần chúng để phản ánh với chủ doanh nghiệp xem xét, giải quyết. Chất lượng sinh hoạt chi bộ phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh. Có nơi đã mời chủ doanh nghiệp dự sinh hoạt chi bộ, chủ động trao đổi nội dung sinh hoạt cấp uỷ, sinh hoạt chi bộ với chủ doanh nghiệp. Việc đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức Đảng hằng năm dần đi vào nền nếp. Trong các đơn vị kinh tế tư nhân (chủ yếu là trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước), tăng 10.799 tổ chức đảng, gấp 6,38 lần so với năm 2008 nhưng chỉ chiếm 1,49% tổng số doanh nghiệp3.

Công tác xây dựng tổ chức Đảng và phát triển đảng viên ở DN ngoài khu vực Nhà nước
Hiện nay, cả nước có hàng chục nghìn tổ chức Đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân, chủ yếu là trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước. Nguồn: tinhuykhanhhoa.vn

Một số tồn tại, hạn chế và những vấn đề đặt ra

Qua tổng kết thực tiễn tại các khu vực kinh tế trọng điểm của nước ta hiện nay cho thấy, công tác xây dựng tổ chức Đảng và phát triển đảng viên trong khối doanh nghiệp tư nhân còn tồn tại những hạn chế, yếu kém.

Một là, không ít cấp ủy, chủ doanh nghiệp nhận thức chưa đầy đủ, chưa quan tâm đúng mức đến việc thành lập, hoạt động của tổ chức Đảng trong doanh nghiệp tư nhân, do đó, số lượng tổ chức Đảng, đảng viên trong doanh nghiệp tư nhân còn mỏng, vai trò, vị trí chưa đủ mạnh, hiệu quả hoạt động còn thấp. Tỷ lệ đảng viên khu vực kinh tế tư nhân hiện chỉ chiếm 0,78% tổng số lao động; đa số tổ chức Đảng là chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở, số lượng đảng viên ít.

Hai là, một số chi bộ đảng hoạt động mang tính hình thức, chất lượng sinh hoạt chưa cao, ảnh hưởng không nhỏ đến công tác phát triển đảng viên. Nhiều tổ chức đảng trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước khó khăn về kinh phí hoạt động. Sự đóng góp của tổ chức Đảng với sự phát triển của đơn vị kinh tế tư nhân còn hạn chế. Vị trí, vai trò của không ít tổ chức Đảng còn mờ nhạt, chất lượng hoạt động thấp. Ðáng chú ý, ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, mối quan hệ giữa tổ chức Đảng và ban giám đốc doanh nghiệp còn lỏng lẻo. Tổ chức Công đoàn, Đoàn Thanh niên chưa được chú trọng thành lập, phát triển tại khu vực này, cũng dẫn đến những hạn chế đối với công tác phát triển tổ chức Đảng, đảng viên.

Một số vấn đề đặt ra về công tác xây dựng tổ chức Đảng và phát triển đảng viên ở doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước
Tỷ lệ đảng viên khu vực kinh tế tư nhân hiện chỉ chiếm 0,78% tổng số lao động. Nguồn: vietnamtimes.net.vn

Ba là, vẫn còn một bộ phận chủ doanh nghiệp tư nhân, cũng như NLĐ không mặn mà đối với việc được đứng trong hàng ngũ của Đảng, lo ngại việc sinh hoạt chi bộ, học tập chính trị ảnh hưởng đến thời gian làm việc. Ngoài ra, nhiều công nhân thường xuyên phải thay đổi công việc gây khó khăn trong công tác bồi dưỡng kết nạp Đảng, sinh hoạt chi bộ. Nhiều người học xong lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng, chưa kịp kết nạp đã chuyển đi nơi khác làm việc… Nhiều còn nơi “trắng” tổ chức Đảng.Tỷ lệ đảng viên khu vực kinh tế tư nhân hiện chỉ chiếm 0,78% tổng số lao động. Nguồn:

Bốn là, phần lớn các đảng viên trong doanh nghiệp tư nhân là lao động phổ thông, ít tham gia vào ban lãnh đạo, đội ngũ chuyên viên kỹ thuật. Do đó, đảng viên, tổ chức Đảng trong các doanh nghiệp tư nhân chưa thực sự tiêu biểu, chưa thực sự tiên phong và khả năng thu hút những người khác trong doanh nghiệp vào Đảng chưa cao. Một số đảng viên chưa phát huy vai trò gương mẫu trong doanh nghiệp về đạo đức, lối sống, năng suất và hiệu quả thấp trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

Công tác xây dựng tổ chức Đảng và phát triển đảng viên ở DN ngoài khu vực Nhà nước

Phát huy tốt vai trò của tổ chức Đảng tại doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước sẽ tạo chỗ dựa tin cậy cho doanh nghiệp và người lao động. Ảnh: Quang Thái

Năm là, Nhiều chương trình, kế hoạch của các cấp ủy, chính quyền có chỉ tiêu về xây dựng tổ chức Đảng và phát triển đảng viên trong doanh nghiệp tư nhân nhưng còn nặng về phong trào, hình thức, thiếu thực chất và khả thi. Việc lãnh đạo, chỉ đạo triển khai, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách về phát triển tổ chức Đảng, đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước kết quả còn hạn chế. Công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục của một số cấp ủy đối với chủ đơn vị kinh tế tư nhân chưa thường xuyên, liên tục, kết quả còn hạn chế; biện pháp giáo dục, thuyết phục, động viên NLĐ phấn đấu trở thành đảng viên chưa hiệu quả.

Sáu là, quy định luật pháp về việc thành lập và hoạt động của tổ chức cơ sở Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội ở doanh nghiệp chưa cụ thể, nên hầu hết chi ủy, chi bộ đảng trong các doanh nghiệp rất lúng túng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng nội dung, phương thức hoạt động. Chức năng của chi bộ trong loại hình doanh nghiệp này chưa được hướng dẫn thực hiện cụ thể nên hoạt động của các tổ chức Đảng trong doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài còn yếu. Đối với doanh nghiệp tư nhân trong nước, nhiều tổ chức Đảng trong doanh nghiệp tồn tại và hoạt động một cách mờ nhạt.

Nhận diện những tồn tại, hạn chế như trên chỉ là công việc ban đầu; việc nghiên cứu, tìm giải pháp khắc phục cũng như đề ra những cơ chế chính sách để công tác xây dựng tổ chức Đảng, phát triển đảng viên ở khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt hiệu quả cao đòi hỏi nỗ lực nhiều phía, của cả hệ thống chính trị, trong đó có vai trò quan trọng của tổ chức Công đoàn.

Công tác xây dựng tổ chức Đảng và phát triển đảng viên ở DN ngoài khu vực Nhà nước
Để công tác xây dựng tổ chức Đảng, phát triển đảng viên ở khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt hiệu quả cao đòi hỏi nỗ lực nhiều phía, của cả hệ thống chính trị, trong đó có vai trò quan trọng của tổ chức Công đoàn. Nguồn: baophapluat.vn

Chú thích:

1 Tổng cục Thống kê – Tổng quan kinh tế xã hội Việt nam năm 2019.

2 Văn kiện Đại hội đại biểu Công đoàn Việt Nam, lần thứ XII, tr 34,52,92.

3 Ban Tổ chức Trung ương, Báo cáo tổng kết các chủ trương, chính sách về phát triển tổ chức Đảng, đảng viên trong các đơn vị kinh tế ngoài khu vực kinh tế Nhà nước, HN, tháng 12/2018.

Chuyển 2.800 công nhân ra khỏi ổ dịch ở Bắc Giang Chuyển 2.800 công nhân ra khỏi ổ dịch ở Bắc Giang

Ngay trong chiều 5/6, tỉnh Bắc Giang đưa thêm 2.800 công nhân ở thôn Núi Hiểu, xã Quang Châu đi cách ly tập trung trên ...

Nam công nhân tử vong ở Bắc Giang không do tiêm vắc xin Covid-19 Nam công nhân tử vong ở Bắc Giang không do tiêm vắc xin Covid-19

Các chuyên gia y tế khẳng định, nam công nhân tử vong là lao động của Công ty TNHH Luxshare ICT Bắc Giang không liên ...

Những hình ảnh đầu tiên về buồng xét nghiệm COVID-19 tại Bắc Giang Những hình ảnh đầu tiên về buồng xét nghiệm COVID-19 tại Bắc Giang

Tối ngày 5/6, những buồng xét nghiệm COVID-19 đầu tiên đã được lắp đặt tại Trung tâm Y tế huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

Chia sẻ

Tin cùng chuyên mục

Phát huy kỹ năng cán bộ công đoàn trong tổ chức đối thoại tại nơi làm việc

Nghiên cứu - Trao đổi -

Phát huy kỹ năng cán bộ công đoàn trong tổ chức đối thoại tại nơi làm việc

Đối thoại tại nơi làm việc (ĐTTNLV) là việc chia sẻ thông tin, tham khảo, thảo luận, trao đổi ý kiến giữa người sử dụng lao động (NSDLĐ) với người lao động (NLĐ) hoặc tổ chức đại diện NLĐ về những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích và mối quan tâm của các bên tại nơi làm việc nhằm tăng cường sự hiểu biết, hợp tác, cùng nỗ lực hướng tới giải pháp các bên cùng có lợi (Khoản 1 Điều 63 Bộ luật Lao động năm 2019). Do đó, việc phát huy kỹ năng cán bộ công đoàn (CBCĐ) trong tổ chức ĐTTNLV là rất cần thiết.

Nâng cao năng lực cán bộ công đoàn Việt Nam trong tình hình mới

Nghiên cứu - Trao đổi -

Nâng cao năng lực cán bộ công đoàn Việt Nam trong tình hình mới

Năng lực cán bộ công đoàn (CBCĐ) là toàn bộ khả năng, kỹ năng, đặc tính tâm lý vốn có đảm bảo đáp ứng được yêu cầu công tác vận động, tổ chức, giáo dục quần chúng, CNVCLĐ. Hay nói cách khác, năng lực CBCĐ là tổng hợp các yếu tố tạo thành khả năng hoàn thành nhiệm vụ mà người CBCĐ được giao. Trước yêu cầu của tình hình mới hiện nay, việc nâng cao năng lực CBCĐ là vấn đề được đặt ra cấp bách.

Đọc thêm

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển văn hóa

Nghiên cứu - Trao đổi -

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển văn hóa

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam; đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (CLNNL), phát triển con người. Mục tiêu xây dựng và phát triển văn hóa (PTVH) cũng là mục tiêu xây dựng và phát triển con người mới Việt Nam, đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là chủ thể của sự phát triển.

Kinh nghiệm quốc tế về mô hình bảo hiểm tai nạn lao động theo hình thức tự nguyện

Nghiên cứu - Trao đổi -

Kinh nghiệm quốc tế về mô hình bảo hiểm tai nạn lao động theo hình thức tự nguyện

Các tài liệu thu thập hiện nay chưa cho thấy nước nào trên thế giới thực hiện quy định trong luật pháp về bảo hiểm tai nạn lao động (TNLĐ) theo hình thức tự nguyện cho mọi NLĐ làm việc không có hợp đồng lao động. Tuy nhiên, mỗi nước đều có giải pháp thực hiện mô hình bảo hiểm TNLĐ theo hình thức tự nguyện nhằm bảo vệ NLĐ ở khu vực này. Tìm hiểu vấn đề trên có thể mang lại cho chúng ta những kinh nghiệm nhất định.

Nhu cầu chăm sóc y tế của công nhân khu công nghiệp - thực trạng và gợi ý chính sách

Nghiên cứu - Trao đổi -

Nhu cầu chăm sóc y tế của công nhân khu công nghiệp - thực trạng và gợi ý chính sách

Dịch vụ y tế là một trong những dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm các hình thức khám chữa bệnh, điều dưỡng phục hồi chức năng về thể chất cũng như tinh thần cho người dân nói chung và công nhân nói riêng. Công nhân tại nhiều KCN hiện nay vẫn đang phải làm việc trong điều kiện chưa đảm bảo tiêu chuẩn về ATVSLĐ. Công tác chăm sóc sức khoẻ và y tế cho công nhân ở khu vực này có vai trò quan trọng trong việc phòng tránh, hạn chế tai nạn lao động (TNLĐ) và bệnh nghề nghiệp (BNN) xảy ra.

Chứng khoán hóa với xã hội hóa đầu tư

Nghiên cứu - Trao đổi -

Chứng khoán hóa với xã hội hóa đầu tư

Khái niệm chứng khoán hóa chính thức xuất hiện vào đầu những năm 70 của thế kỷ trước, một trong những nguyên nhân cơ bản do các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó tiếp cận nguồn vốn vay từ các Ngân hàng, cùng với nhu cầu hàng hóa của thị trường tài chính tại Mỹ khi đó không đủ đáp ứng “khẩu vị” nhà đầu tư.

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài chính - ngân hàng

Nghiên cứu - Trao đổi -

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài chính - ngân hàng

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất chắc chắn sẽ tác động mạnh tới lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng (TCNH) nói chung, trong đó có vấn đề nguồn nhân lực chất lượng cao (NNLCLC) ngành TCNH nói riêng. Do vậy, việc xác định rõ một số quan điểm về phát triển NNLCLC ngành TCNH trong CMCN 4.0 là điều mang tính cấp thiết.

Chất lượng cuộc sống của công nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Nghiên cứu - Trao đổi -

Chất lượng cuộc sống của công nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Bằng cách tiếp cận chất lượng cuộc sống và quan điểm cần chăm lo toàn diện cho đội ngũ công nhân như một giải pháp căn cơ đảm bảo sự ổn định kinh tế-xã hội; bài viết dưới đây rút trích một số kết quả nghiên cứu rút ra từ Đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi ứng xử của công nhân trước những biến động kinh tế, xã hội ở TP. Hồ Chí Minh” của tác giả, do Viện Nghiên cứu Phát triển thành phố tiến hành vào năm 2019, nhằm phản ánh thực trạng và đề xuất các giải pháp định hướng góp phần giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho lực lượng công nhân TP. Hồ Chí Minh trong hiện nay cũng như giai đoạn sắp tới.

Những thách thức đối với lao động Việt Nam trước làn sóng công nghệ số

Công đoàn Việt Nam -

Những thách thức đối với lao động Việt Nam trước làn sóng công nghệ số

Thời gian qua, lực lượng lao động Việt Nam tuy không ngừng phát triển về chuyên môn kỹ thuật nhưng đa số lao động Việt Nam đều làm việc trong những ngành nghề có hàm lượng kỹ thuật thấp. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ giúp tăng năng suất lao động nhờ áp dụng những công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất, song cũng đặt ra nhiều thách thức như mất việc làm và những vấn đề xã hội khác.

Tác động của phân hóa giàu nghèo đến ý thức chính trị của giai cấp công nhân nước ta

Công đoàn Việt Nam -

Tác động của phân hóa giàu nghèo đến ý thức chính trị của giai cấp công nhân nước ta

Trong những năm qua, tình trạng phân hóa giàu nghèo đã và đang trở thành một hiện tượng phổ biến ở nước ta; là một trong những nguyên nhân làm sai lệch nhận thức chính trị của một bộ phận công nhân. Vậy, làm thế nào để hạn chế những tác động, ảnh hưởng tiêu cực đó đến công nhân để tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân (GCCN) ngày càng vững mạnh?

Xem phiên bản di động