Hoàn thiện cơ sở lý luận cho hoạt động nhân đạo của công đoàn hiện nay

Cứ Tết đến, Xuân về, chúng ta lại được thấy một thành quả lớn của công đoàn trong việc chăm lo đời sống cho NLĐ. Đó là việc huy động được toàn xã hội quan tâm đến chăm lo Tết cho công nhân. Tuy nhiên, phong trào này đến nay vẫn mang tính thiện nguyện, tùy tâm nhiều hơn. Nó đang cần tới sự hỗ trợ của lý tính, lý luận để xã hội thấy được chiều sâu giá trị, cơ sở cho một hoạt động thường diễn ra và có thêm nhiều quan tâm.

1. Vì sao cần hoàn thiện cơ sở lý luận cho hoạt động nhân đạo (HĐNĐ) của công đoàn?

Thứ nhất, hoạt động này nằm trong nhiệm vụ hàng đầu để xây dựng GCCN đã được Đảng ta xác định là: “Tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về GCCN trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế”.1

Thứ hai, HĐNĐ hiện nay có những vùng “chồng lấn”. Nó vừa nằm ở miền chức năng của công đoàn là “chăm lo đời sống vật chất, tinh thần NLĐ”; lại vừa có những nội dung vươn lên xa hơn và tiếp cận đến đạo lý, lương tâm; đôi khi gây đôi chút khó khăn cho HĐNĐ của công đoàn; nó thiếu chiều sâu của quy luật, của lý luận nên độ bền vững, sức lôi cuốn, lan tỏa chưa cao.

LĐLĐ tỉnh Phú Thọ phát động ủng hộ đồng bào miền Trung bị thiên tai, bão lũ.

Hoàn thiện cơ sở lý luận cho hoạt động nhân đạo của công đoàn hiện nay

Thứ ba, hiện có khá nhiều lý luận có thể hợp thành cơ sở lý luận cho HĐNĐ của công đoàn và theo đó xây dựng cơ sở lý luận cho hoạt động này là cần thiết và có thể.

Vậy, lý luận cho HĐNĐ của công đoàn hiện nay cần đạt tới những gì? Theo chúng tôi, về cơ bản, cần làm rõ cơ sở hiện thực, tính quy luật và những xu thế hiện đại mà lý luận công đoàn cần hội nhập; góp phần cho HĐNĐ của công đoàn nước ta ngày càng tự giác và nâng cao tính hiệu quả, sức lan tỏa. Hướng tới kết hợp một phong trào xã hội vốn mang tính “tùy tâm, thiện nguyện” với luật hóa đang là xu thế trên thế giới hiện nay.

2. Những lý luận tạo cơ sở hoặc cần tiếp hợp cho lý luận về HĐNĐ của công đoàn nước ta

2.1. Lý luận về xã hội hóa của chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa nhân đạo (CHNĐ) hiện đại

2.1.1. Lý luận về xu thế xã hội hóa của chủ nghĩa Mác - Lênin. Chủ nghĩa Mác - Lênin phát hiện ra từ đời sống hiện thực rằng, chính xu thế xã hội hóa là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến CNXH, theo đó nó cũng là cơ sở duy vật lịch sử cho nhiều hoạt động mang tính XHCN của nhân loại.

Nội dung quan trọng hàng đầu của khái niệm xã hội hóa theo tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin là một trình độ cao của lực lượng sản xuất (LLSX). Nó chỉ xuất hiện cùng với đại công nghiệp (công nghiệp hóa). Máy móc được ứng dụng vào sản xuất và dịch vụ, công cụ sản xuất này mang tính xã hội vì phải có sự hợp tác của nhiều người sử dụng thì mới tạo ra được sản phẩm. Tư liệu sản xuất trong sản xuất công nghiệp cũng là sản phẩm và đối tượng lao động của cả xã hội. Đặc tính của phương thức sản xuất công nghiệp là có tính tập thể, khiến cho “hàng triệu công nhân gắn chặt với nhau thành một cơ thể kinh tế”.

Theo đó, LLSX của xã hội ngày càng được xã hội hóa cao hơn. Lênin viết: “... việc tập trung sản xuất và nhân khẩu trong những xí nghiệp lớn, truyền thống cổ hủ của chế độ gia trưởng bị phá vỡ, lớp dân cư di động được tạo ra, mức nhu cầu và trình độ văn hóa của công nhân được nâng cao - tất cả những cái đó đều là những nhân tố... quá trình làm cho sản xuất ở trong nước ngày càng được xã hội hóa, và do đấy, làm cho người tham gia sản xuất cũng ngày càng được xã hội hóa.”2

Hoàn thiện cơ sở lý luận cho hoạt động nhân đạo của công đoàn hiện nay

Công đoàn Ngân hàng Việt Nam ủng hộ 3 tỷ đồng tại tỉnh Tiền Giang bị ảnh hưởng bởi hạn hán xâm nhập mặn.

Nội dung quan trọng thứ hai của xã hội hóa còn là: Sự phủ định tính chất tư nhân của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa (TBCN), xác lập tính chất xã hội trong sở hữu tư liệu sản xuất, quản lý quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm. Theo tư tưởng này, xã hội hóa là tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội theo nguyên tắc “cùng làm, cùng hưởng”, cộng đồng cả về trách nhiệm và thụ hưởng thành quả của phát triển. HĐNĐ của công đoàn có gốc rễ từ vấn đề này.

Xã hội hóa về sở hữu tư liệu sản xuất, là thủ tiêu chế độ tư hữu, xác lập chế độ công hữu để từ đó phát triển sản xuất và có công bằng tích cực. Đó là mục tiêu cơ bản của cuộc đấu tranh của GCCN: “Mục đích (và thực chất) của CNXH: Chuyển ruộng đất, công xưởng và, nói chung, hết thảy mọi tư liệu sản xuất vào tay toàn xã hội và thay thế nền sản xuất TBCN bằng một nền sản xuất tiến hành theo một kế hoạch chung, nhằm phục vụ lợi ích của hết thảy mọi thành viên trong xã hội.”3 “Rằng nền sản xuất XHCN, là nền sản xuất trong đó tất cả những gì do công nhân sản xuất ra và tất cả những sự cải tiến trong sản xuất đều phải làm lợi cho bản thân NLĐ”4.

Chủ nghĩa Mác nhấn mạnh đến tính chất công bằng trong phân phối. Nguyên tắc cơ bản của XHCN là phân phối theo lao động được kết hợp các hình thức phân phối khác: "Theo hiệu quả sản xuất và phúc lợi xã hội. Mục đích là để cho mọi người đều được thụ hưởng các giá trị một cách công bằng. Xã hội hóa trong phân phối còn là “để đảm bảo phúc lợi đầy đủ và sự phát triển tự do và toàn diện của tất cả mọi thành viên trong xã hội".5

Hoàn thiện cơ sở lý luận cho hoạt động nhân đạo của công đoàn hiện nay

Toàn thể cán bộ công đoàn chuyên trách LĐLĐ tỉnh Kiên Giang tự nguyện hưởng ứng đóng góp ủng hộ đồng bào miền Trung bị lũ lụt.

Như vậy, theo chủ nghĩa Mác, HĐNĐ trước hết xuất phát từ tính chất xã hội của quá trình phát triển, được sản sinh ra từ nền sản xuất và dịch vụ công nghiệp, là một bộ phận của quá trình phân phối và phân phối lại của xã hội XHCN theo nguyên tắc “cùng làm, cùng hưởng”, cộng đồng cả trách nhiệm và thụ hưởng. Nó là một dạng thức của phúc lợi xã hội mà chế độ mới mang lại cho CNLĐ. Bản chất của nó là sự quan tâm của cả xã hội với hạnh phúc của từng con người.

Việc coi chủ nghĩa Mác là cơ sở lý luận cho HĐNĐ của công đoàn không chỉ tạo ra độ vững chắc từ quan điểm duy vật lịch sử mà còn làm rõ mối liên hệ, sự liên thông giữa yêu cầu của sản xuất công nghiệp với ứng xử của con người với con người trong xã hội công nghiệp. Nó có tác dụng mở rộng đối tượng tham gia cũng như quyền thụ hưởng thành quả từ hoạt động này.

2.1.2. CNNĐ hiện đại: CNNĐ là một tập hợp các quan niệm và hành động vì con người và hạnh phúc của con người, được xuất phát từ đạo lý nhân ái, hướng thiện và chấp nhận đối tượng là tất cả xã hội không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hoặc tôn giáo. Bất kỳ học thuyết, trào lưu tư tưởng, văn hoá, nghệ thuật nào công nhận và lấy “con người là thực thể cao nhất đối với con người” (C.Mác) đều thuộc về CNNĐ.

CNNĐ hiện đại của thế giới hiện nay thể hiện trong nhiều công ước quốc tế như một quyền của con người được thụ hưởng từ cộng đồng. CNNĐ còn bao gồm quan điểm hướng tới những nhóm xã hội dễ bị tổn thương hoặc thiếu khả năng tự bảo vệ trước bất trắc của thị trường, xung đột xã hội hoặc hoặc thiên tai. Nhóm xã hội này trước tiên bao gồm NLĐ có thu nhập thấp.

Việc thừa nhận và ứng xử theo chủ nghĩa CNNĐ vừa cập nhật cho hoạt động công đoàn vừa mở rộng diện tương tác và cả nguồn lực cũng như các quy tắc ứng xử phù hợp trong quá trình hội nhập.

2.2. Vận dụng các lý luận về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp

Hiện nay, khái niệm “trách nhiệm xã hội doanh nghiệp” (Corporate Social Responsibility - viết tắt là CSR) được nhìn nhận như một yêu cầu khách quan với quá trình sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp và làm thành yêu cầu xã hội với sản phẩm, uy tín và thương hiệu của một doanh nghiệp hiện đại. CSR là nghĩa vụ mà một doanh nghiệp phải thực hiện đối với xã hội để tăng đến mức tối đa các tác dụng tích cực và giảm tới tối thiểu các hậu quả tiêu cực đối với xã hội.

CSR là đảm bảo cho sự phát triển bền vững của xã hội thông qua trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh để góp phần kiến tạo ra một xã hội văn minh; trong đó, doanh nghiệp tham gia tích cực vào các hoạt động nhân đạo và coi đó như một bổn phận của mình với xã hội.

CRS còn bao gồm việc doanh nghiệp kiến tạo một quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ và bền vững thông qua việc tạo ra việc làm với mức thù lao xứng đáng, cơ hội việc làm như nhau, cơ hội phát triển nghề và chuyên môn, hưởng thù lao tương xứng, hưởng môi trường lao động an toàn, vệ sinh và đảm bảo quyền riêng tư, cá nhân ở nơi làm việc...

CRS có thể còn là việc doanh nghiệp coi việc nỗ lực tham gia các hoạt động xã hội như một nghĩa vụ pháp lý. Qua đó xã hội và NLĐ ghi nhận giá trị xã hội được tạo ra ngoài sản phẩm; Nhà nước có thể khuyến khích bằng những ưu đãi về chính sách...

Với cách hiểu và làm như vậy, CRS mặc nhiên coi công đoàn và các hoạt động của nó như người bạn đồng hành vừa tự giác vừa tự nhiên. Qua đó vai trò của công đoàn với xây dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ và bền vững cũng được doanh nghiệp nhìn nhận và đề cao.

2.3. Vận dụng các lý luận về quản trị công hiện đại.

Một trong những chức năng của công đoàn hiện nay là tham gia vào quản lý; mức độ có thể khác nhau tùy theo từng loại hình doanh nghiệp, nhưng vai trò của công đoàn đã được doanh nghiệp nhìn nhận. Gần đây đã xuất hiện nhiều lý luận về quản trị công hiện đại và đây có thể là một gợi ý về phương pháp để bổ sung, tiếp hợp cho HĐNĐ của công đoàn. Có một số gợi ý đáng quan tâm từ lý thuyết này.

Kết hợp quản lý và quản trị, người dân cùng tham gia: Theo đó, các chủ thể quản lý chủ động hợp tác, phối hợp với các tổ chức xã hội, doanh nghiệp thúc đẩy sự cùng tham gia của người dân trong việc xây dựng, hoạch định và thực thi các chính sách của mình. Các tổ chức xã hội đóng vai trò cầu nối giữa người dân và Nhà nước. Bằng cách đó, quản trị công mới sẽ mang tính dân chủ cao, tạo ra sự đồng thuận xã hội lớn.

Ở Việt Nam, trong giai đoạn cách ly xã hội để phòng tránh Covid-19, nhiều tổ chức, thậm chí có cả nhiều công dân đã tự giác, bằng cách của mình, cùng tham gia các hoạt động từ thiện với nhiều hình thức phong phú: “cây gạo cứu trợ”, cơm hộp miễn phí cho người nghèo, phát khẩu trang... Nhà nước vẫn là người đưa ra chủ trương, có vai trò chủ đạo, nhưng không làm một mình.

Đào tạo và khuyến khích những công dân tích cực: Quản trị hiện đại tìm kiếm và đào tạo những người có khả năng tạo ra thay đổi ở một lĩnh vực nào đó tại cộng đồng của họ. Công dân tích cực sẽ sử dụng những kiến thức, kỹ năng có được để lan tỏa tới người khác. Các công tác tình nguyện, các hoạt động phi lợi nhuận, vì lợi ích chung... theo đó sẽ được nhân lên từ 1 đến n.

Như vậy, quy chiếu vào HĐNĐ của công đoàn, thay vì đào tạo một cán bộ năng nổ, tận tụy (mà vẫn là kiêm nhiệm và thường xuyên thay đổi theo nhiệm kỳ) chúng ta có được những cá nhân tích cực cùng tham gia. Họ có thể không phải là người am hiểu tất cả HĐNĐ nhưng lại là một chuyên gia trong từng lĩnh vực để giúp cho hoạt động này thiết thực hơn, lan tỏa hơn.

Phát triển nhận thức và hành động cộng đồng: Là tập hợp nhiều hoạt động được tổ chức trong đời sống nhằm làm thay đổi các quan niệm, giá trị, hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường của cộng đồng theo xu hướng ngày càng hướng thiện.

Vừa qua, chúng ta thấy nhiều hoạt động thiện nguyện ở các khu vực có đông CNLĐ sinh sống. Nhiều chủ nhà trọ giảm giá hoặc miễn tiền trọ cho công nhân khi doanh nghiệp buộc phải đình trệ kinh doanh mà chưa cần vận động. Hiệu quả ấy có được là do phát triển của nhận thức cộng đồng.

Tóm lại, có nhiều cơ sở lý luận và phương pháp hoạt động mới mà thế giới hiện đại đã mang đến cho chúng ta. Tích hợp và phát triển lý luận phù hợp với lĩnh vực HĐNĐ của công đoàn là điều cần thiết và có thể. Vấn đề tiếp tục đặt ra là sẽ làm như thế nào, ai làm... Xin được dành vấn đề này cho một bài viết khác.

Tài liệu tham khảo:

- Nghị quyết số 20-NQ/TW của BCH TW Đảng Khóa X.

- V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, bản tiếng Việt, 1978.

Chú thích:

1. Nghị quyết “Tiếp tục xây dựng GCCN trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” - NQ 20 NQ/TW của BCH TW Đảng Khóa X.

2. V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ Maxcơva, 1978, bản tiếng Việt, Tập 3, tr 693 - 694

3. V.I.Lênin, Toàn tập, sđd, Tập 4, tr 332.

4. V.I.Lênin, Toàn tập, sđd, Tập 2, tr 98

5. V.I.Lênin, Toàn tập, sđd, Tập 6, tr 261.

Hoàn thiện cơ sở lý luận cho hoạt động nhân đạo của công đoàn hiện nay
Ảnh minh họa.

Bài viết: PGS.TS. Nguyễn An Ninh

Sớm bình yên Hải Dương nhé! Sớm bình yên Hải Dương nhé!

Hải Dương đã giãn cách xã hội toàn tỉnh từ 16/2/2021 và dịch bệnh ở nơi nhiều ca nhiễm nhất nước này vẫn đang diễn ...

Đóng cửa phòng khám bệnh nhân người Nhật đến trước khi tử vong Đóng cửa phòng khám bệnh nhân người Nhật đến trước khi tử vong

Sở Y tế Hà Nội vừa quyết định đình chỉ phòng khám Raffles Medical do chưa thực hiện đúng các hướng dẫn trong phòng, chống ...

Công nhân xếp hàng chờ giấy chứng nhận ra vào khu công nghiệp Công nhân xếp hàng chờ giấy chứng nhận ra vào khu công nghiệp

Tỉnh Hải Dương siết chặt việc cấp giấy chứng nhận ra vào cho toàn bộ công nhân được làm việc tại các doanh nghiệp của ...