Thứ tư 27/10/2021 08:10
banner-trai-xinh-gai-dep

Kinh tế số - động lực quan trọng đưa Việt Nam phát triển

Nghiên cứu - Trao đổi - PGS. TS. Trần Mai Ước - Chánh Văn phòng, Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng có nhiều điểm mới nổi bật, trong đó có nội dung liên quan đến tạo lập cơ sở hạ tầng để chuyển đổi số quốc gia, xây dựng xã hội số và nền kinh tế số (KTS). Nghị quyết Đại hội XIII cũng đã nhấn mạnh việc phát triển KTS trong thời gian tới, xem KTS là một trong các hướng đột phá chiến lược.
Kinh tế số - động lực quan trọng đưa Việt Nam phát triển
Kinh tế số - động lực quan trọng đưa Việt Nam phát triển. Nguồn: ictvietnam.vn

Giá trị KTS Việt Nam và những tồn tại cần tháo gỡ

Theo định nghĩa chung, KTS là “một nền kinh tế vận hành chủ yếu dựa trên công nghệ số (CNS), đặc biệt là các giao dịch điện tử tiến hành thông qua internet”. Ở khía cạnh khác, KTS có khi cũng được gọi là kinh tế internet (internet economy), kinh tế mới (new economy) hoặc kinh tế mạng (web economy). Cho tới nay, các nhà nghiên cứu đồng thuận nhận định là chưa có một định nghĩa được đồng thuận về KTS. Theo quan điểm của chúng tôi, KTS là một phần của nền kinh tế, trong đó lấy việc ứng dụng, sử dụng CNS, dữ liệu số làm nền tảng trong toàn bộ hoạt động của nền kinh tế, hướng đến nâng cao hiệu quả, năng suất trong lao động và kinh doanh.

Thực tế thời gian qua, quá trình chuyển đổi số đã và đang được tiến hành mạnh mẽ. Cốt lõi là các mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của nền kinh tế dựa trên ứng dụng CNS. Lĩnh vực công nghệ kỹ thuật số phát triển đã mở đường cho sự đổi mới và phát triển mang tính toàn cầu. Việc áp dụng những tiến bộ công nghệ trong nhiều năm qua đã tác động vào các ngành kinh doanh cũng như mọi khía cạnh của cuộc sống. CNS thúc đẩy nhiều ngành kinh doanh cải tiến mô hình phát triển, tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và xóa mờ đường biên giới địa lý.

Quy mô nền KTS Việt Nam theo nghiên cứu về KTS thường được dẫn lại trong thời gian qua tại báo cáo do Google và Temasek công bố, chỉ tính riêng bốn lĩnh vực gồm di chuyển (taxi, xe ôm công nghệ, giao hàng, giao thức ăn), thương mại điện tử, quảng cáo trực tuyến và du lịch trực tuyến đã tăng mạnh; dự báo đến năm 2025, qui mô nền KTS Việt Nam sẽ đạt 33 tỉ USD với mức tăng trưởng 25% mỗi năm, cao thứ hai (sau Indonesia) về mức tăng trưởng và cao thứ ba (sau Indonesia và Thái Lan) về qui mô thị trường trong khu vực Đông Nam Á. Việt Nam cũng là một trong những địa điểm đầu tư KTS được ưa thích ở Đông Nam Á, đứng sau Indonesia và Singapore.

Kinh tế số - động lực quan trọng đưa Việt Nam phát triển
Quá trình chuyển đổi số đã và đang được tiến hành mạnh mẽ thời gian qua ở Việt Nam. Nguồn: ictvietnam.vn

Trong năm 2020, các xu hướng nổi trội liên quan đến kinh tế internet mà chúng ta có thể kể đến là: Thương mại điện tử, Truyền thông Trực tuyến, Giao thông & Thực phẩm, Du lịch Trực tuyến, Dịch vụ Tài chính Kỹ thuật số, trong đó Y tế Kỹ thuật số (HealthTech) và Giáo dục Kỹ thuật số (EdTech) là hai lĩnh vực mới được bổ sung. Tại Việt Nam, trong khoảng thời gian giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19, người tiêu dùng bắt đầu tìm kiếm giải pháp cho những vấn đề đột ngột phát sinh thông qua mạng internet. Rất nhiều người đã dùng thử các dịch vụ kỹ thuật số mới. Cụ thể, trong tổng số người sử dụng dịch vụ kỹ thuật số, người dùng mới tại Việt Nam chiếm đến 41%, là nước có tỉ lệ người dùng internet mới cao nhất trong khu vực; 94% số người dùng mới này sẽ tiếp tục sử dụng các dịch vụ đó kể cả sau đại dịch.

Đại dịch Covid-19 vừa qua cùng với các lệnh giãn cách xã hội đã giúp doanh nghiệp nhận ra vai trò ngày một quan trọng của chuyển đổi số. Tuy nhiên, cũng chính đại dịch Covid-19 đã cho thấy quá trình chuyển đổi số tại Việt Nam đang phải đối đầu với một số hạn chế cơ bản, cụ thể:

Một là, hạ tầng và dịch vụ số, bao gồm hạ tầng cứng và mạng lưới viễn thông làm nền tảng để tạo ra hạ tầng mềm là dịch vụ số, giúp tối ưu các hoạt động của nền kinh tế vẫn chưa đáp ứng tối đa như kỳ vọng. Tài nguyên số bao gồm hệ sinh thái dữ liệu (cơ sở dữ liệu quốc gia về nông nghiệp, tài chính, dân cư, quản lý đất đai) và tri thức mở, có ích cho việc dự đoán kịp thời và ra quyết định mang lại hiệu quả kinh tế cao, chưa được thực hiện hoàn thiện so với đòi hỏi của thực tiễn.

Kinh tế số - động lực quan trọng đưa Việt Nam phát triển
Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ người sử dụng mạng internet lớn nhất trong khu vực. Đây là một thuận lợi trong việc phát triển nền kinh tế số. Ảnh minh họa

Hai là, chính sách chuyển đổi số, bao gồm các dịch vụ, chính sách chuyển đổi từ Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, chính sách đào tạo nhân lực số chất lượng cao, chính sách đầu tư kinh doanh số, chính sách an toàn thông tin, chủ quyền số và sở hữu trí tuệ còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa theo kịp xu thế của sự phát triển. Vấn đề bảo vệ quyền riêng tư trên môi trường internet, bảo đảm an toàn, an ninh trong môi trường số, việc rò rỉ dữ liệu, mua bán và khai thác dữ liệu cá nhân, doanh nghiệp cũng đang là vấn đề đáng quan tâm trong phát triển nền KTS ở Việt Nam hiện nay.

Ba là, công tác quản lý nhà nước, một số quy định pháp luật không theo kịp với các mô hình kinh doanh trong nền KTS, đặc biệt là vấn đề thu thuế, đảm bảo quyền lợi cho NLĐ đối với các hoạt động thương mại và cung cấp dịch vụ xuyên biên giới hiện nay.

Bốn là, Việt Nam còn thiếu kỹ năng số và nhân lực, thiếu tư duy kỹ thuật số hoặc các thách thức về văn hóa kỹ thuật số trong doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam.

Kinh tế số - động lực quan trọng đưa Việt Nam phát triển
Giáo dục, đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao là “chìa khóa” của nền kinh tế số. Nguồn: tapchicongsan.org.vn

Đâu là giải pháp?

Thứ nhất, cần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, tạo nguồn nhân lực cho nền KTS. Việc làm này có thể triển khai theo hướng thúc đẩy và nâng cao mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp. Các cơ sở giáo dục đại học cần có những khóa đào tạo lại và nâng cao, kéo dài chỉ 6-12 tháng để cấp chứng chỉ chứ không phải đào tạo bằng cấp. Chương trình đào tạo nhân lực công nghệ thông tin cần gắn với các xu thế công nghệ mới như: internet kết nối vạn vật (Internet of Things - IoT), công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ robot, đẩy mạnh liên kết đào tạo và thực hành giữa các trường và khu vực doanh nghiệp trong ứng dụng công nghệ thông tin.

Thứ hai, có cơ chế thúc đẩy phát triển KTS tại các vùng kinh tế trọng điểm, từ đó tạo nên sự phát triển kinh tế bền vững cho các vùng kinh tế này. Xét bản chất, các vùng kinh tế trọng điểm là nơi có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nơi tập trung sản xuất công nghiệp của cả nước mà còn là nơi có hệ thống các trường đại học, viện, trung tâm nghiên cứu hàng đầu; bảo đảm đào tạo và cung cấp nhân lực cho cả vùng, có nhiều thuận lợi để phát triển KTS.

Thứ ba, Nhà nước nên phân bổ phù hợp ngân sách cho các địa phương; kích thích các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm cùng hợp tác phát triển hạ tầng. Nhà nước cũng cần có chính sách hỗ trợ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong vùng kinh tế trọng điểm. Chính phủ cần tạo không gian thử nghiệm đi đôi với hỗ trợ doanh nghiệp để phát triển nền KTS. Bởi các ứng dụng CNS sẽ là “cú hích” quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo của các cá nhân và doanh nghiệp.

Kinh tế số - động lực quan trọng đưa Việt Nam phát triển
Dây chuyền sản xuất tự động với hệ thống đóng gói chi tiết máy in đang được công nhân Công ty CNCVina (Hà Nội) chạy thử trước khi bàn giao cho khách hàng Nhật Bản. Nguồn: cncvina.com.vn

Thứ tư, để phát triển KTS theo hướng bền vững, chính quyền các địa phương, doanh nghiệp cần khẩn trương nâng cấp hạ tầng số, trong đó có việc chuẩn bị các phương án triển khai dịch vụ 5G - 6G cũng như các hạng mục hạ tầng công nghệ khác có liên quan.

Thứ năm, chú trọng đối ngoại đa phương với các tổ chức từ cấp độ toàn cầu, liên khu vực, khu vực nhằm xây dựng những quy tắc phối hợp và ứng xử chung, các hiệp định, công ước và thỏa thuận hợp tác, phối hợp trên những vấn đề liên quan nảy sinh từ sự phát triển của KTS nhằm bảo đảm an ninh thông tin, an ninh mạng.

Thứ sáu, cần thay đổi tư duy và cách thức quản lý nhà nước cho phù hợp với xu thế KTS và CMCN 4.0.

Thứ bảy, các Bộ, ngành, từng địa phương, từng doanh nghiệp cho đến người dân phải hành động để đưa chủ trương “phát triển KTS” trong các văn kiện của Đại hội XIII vào cuộc sống.

Kinh tế số - động lực quan trọng đưa Việt Nam phát triển
Cùng với ngân hàng số, du lịch số... y tế số đang là một xu hướng nổi lên gần đây. Trong ảnh: Buổi hội chẩn khám chữa bệnh từ xa tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Nguồn: vov.vn

Kết luận

Thực tiễn thời gian vừa qua tại Việt Nam chứng minh rằng, việc chuyển đổi số, hướng tới xây dựng KTS đã có những kết quả bước đầu. Phát triển KTS sẽ góp phần quan trọng làm thay đổi từ phương thức quản lý Nhà nước, mô hình sản xuất kinh doanh, tiêu dùng đến đời sống văn hóa, xã hội, thúc đẩy phát triển xã hội số. Văn kiện Đại hội Đảng XIII đặt ra yêu cầu thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số quốc gia, phát triển KTS, xã hội số để tạo bứt phá về nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh hiện nay và sắp tới là điều mang tính tất yếu khách quan trong sự vận động và phát triển của Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

  1. Think Tank Vinasa (2019), Việt Nam thời chuyển đổi số, Nxb Thế giới, HN.
  2. Đảng CSVN Việt Nam (2021), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII.
  3. Don Tapscott (1995), The Digital Economy: Promise and Peril in the Age of Networked Intelligence. McGraw-Hill.
  4. Trần Mai Ước (2021), KTS Việt Nam - Những điểm nghẽn và các giải pháp cơ bản để phát triển theo hướng bền vững, Tạp chí Khoa học Chính trị, ISSN: 1859-0187, số 2, trang 48-53.
  5. https://vfo.vn/r/bao-cao-ve-kinh-te-so-dong-nam-a-2020-dat-muc-100-ty-usd-40-trieu-nguoi-dung-internet-moi.140869/
  6. https://www.vcci.com.vn/viet-nam-dang-o-dau-trong-xu-the-kinh-te-so

7. https://forbesvietnam.com.vn/tin-cap-nhat/5-nam-gia-tri-nen-kinh-te-so-viet-nam-tang-gap-bon-lan-7818.html

Nhờ em gái chăm con, lên đường hỗ trợ TP.HCM chống dịch Nhờ em gái chăm con, lên đường hỗ trợ TP.HCM chống dịch

Chưa một lần rời xa con quá một ngày, thế nhưng khi nhận được lệnh lên đường chi viện cho TP.HCM, nữ điều dưỡng đã ...

Công nhân vệ sinh môi trường: Nụ cười trở lại khi công ty trả hết nợ lương Công nhân vệ sinh môi trường: Nụ cười trở lại khi công ty trả hết nợ lương

Hơn 4 tỷ đồng là số tiền mà Công ty CP Tập đoàn Nam Hà Nội trả cho các công nhân vệ sinh môi trường ...

Nữ công nhân F1 có 6 người nhà F0: “Đến bây giờ, nhà tôi vẫn nhìn nhau từ xa” Nữ công nhân F1 có 6 người nhà F0: “Đến bây giờ, nhà tôi vẫn nhìn nhau từ xa”

Ngay sau khi ổ dịch tại Công ty TNHH Hosiden Việt Nam bùng phát, chị Nguyễn Thị Nguyệt (khi đó là công nhân thuộc diện ...

Chia sẻ

Tin cùng chuyên mục

Xây dựng chương trình quản lý sức khỏe tinh thần của NLĐ theo ISO 45003:2021

Sức khỏe -

Xây dựng chương trình quản lý sức khỏe tinh thần của NLĐ theo ISO 45003:2021

Công tác quản lý an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại nơi làm việc ngày càng được chú trọng và có nhiều công cụ hỗ trợ để đảm bảo môi trường làm việc tốt nhất, tập trung vào việc đánh giá rủi ro, gánh nặng lao động, cải thiện điều kiện lao động và trách nhiệm xã hội…

Thực hiện pháp luật về An toàn, vệ sinh lao động tại doanh nghiệp

Công đoàn Việt Nam -

Thực hiện pháp luật về An toàn, vệ sinh lao động tại doanh nghiệp

Việc đưa sản xuất trở lại hiện nay là điều rất cần thiết. Tuy nhiên, việc sản xuất chỉ được tiến hành khi đảm bảo đủ các điều kiện an toàn. Hơn bao giờ hết, người lao động (NLĐ) cần phải ý thức được việc tuân thủ các quy định về ATVSLĐ gắn với công tác phòng, chống dịch. Đây là điều có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với bản thân NLĐ và đối với toàn xã hội.

Chăm sóc sức khỏe tâm thần cho nhân viên Y tế trong phòng, chống dịch Covid-19

Sức khỏe -

Chăm sóc sức khỏe tâm thần cho nhân viên Y tế trong phòng, chống dịch Covid-19

Đại dịch Covid-19 gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của nhân viên y tế (NVYT), nhất là sức khỏe tâm thần (SKTT) các NVYT nơi tuyến đầu. Ở ta chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này, trong khi thế giới đã có những khảo sát ban đầu. Việc tìm hiểu kết quả những nghiên cứu này nhằm áp dụng chăm sóc SKTT cho NVYT trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết.

Tác động của dịch Covid-19 và giải pháp sau khi hết giãn cách xã hội

An toàn lao động -

Tác động của dịch Covid-19 và giải pháp sau khi hết giãn cách xã hội

Mặc dù Đảng, Nhà nước, các cơ quan ban, ngành, đoàn thể đã có nhiều chính sách hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng dịch Covid-19 nói chung và doanh nghiệp, công nhân lao động (CNLĐ) nói riêng, song với tình hình dịch Covid-19 hiện nay, nếu chúng ta không có các giải pháp đồng bộ ngay từ đầu, thì giải quyết việc làm, thu nhập của CNLĐ sau khi hết giãn cách xã hội là bài toán không dễ tìm lời giải.

Xây dựng và ứng dụng bài giảng E-learning để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn

Nghiên cứu - Trao đổi -

Xây dựng và ứng dụng bài giảng E-learning để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn

Để thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị về Đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới, Ban Chấp hành Tổng LĐLĐ Việt Nam đã ban hành Chương trình hành động số 01/CT-TLĐ ngày 20/7/2021.

Chăm lo phúc lợi xã hội về nhà ở cho công nhân, người lao động

Nghiên cứu - Trao đổi -

Chăm lo phúc lợi xã hội về nhà ở cho công nhân, người lao động

Ngày 12/6/2021, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 02-NQ/TW về “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới”, trong đó, một trong những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu được xác định là: “Nhà nước, chính quyền các cấp có cơ chế huy động, bố trí nguồn lực tài chính thỏa đáng để nâng cao phúc lợi xã hội, chăm lo, giải quyết những vấn đề khó khăn, bức xúc của NLĐ, nhất là nhà ở, trường học, bệnh viện, nơi vui chơi, giải trí, xử lý các tình huống đột xuất ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập”; đây là sự cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, trong đó có vấn đề nhà ở cho CNLĐ mà Chính phủ cũng đã bước đầu thể chế hóa.

Đọc thêm

Bảo đảm an toàn cho các nhân viên y tế trên tuyến đầu chống dịch

Nghiên cứu - Trao đổi -

Bảo đảm an toàn cho các nhân viên y tế trên tuyến đầu chống dịch

Sự bùng phát nhanh chóng của đại dịch Covid-19 đã biến các nhân viên y tế (NVYT) trở thành lực lượng tuyến đầu trong cuộc chiến ngăn chặn đại dịch. Do tính chất nghề nghiệp, hàng triệu NVYT đã và đang phải mạo hiểm sức khỏe cũng như sự an toàn của bản thân vì sức khỏe của cộng đồng. Nhận diện những rủi ro và đưa ra các giải pháp nhằm đảm bảo an toàn lao động (ATLĐ) và sức khỏe nghề nghiệp (SKNN) cho NVYT rất cần được ưu tiên trong giai đoạn hiện nay.

Covid-19 là một bệnh nghề nghiệp - Quan điểm và đề xuất

Nghiên cứu - Trao đổi -

Covid-19 là một bệnh nghề nghiệp - Quan điểm và đề xuất

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã phân loại bệnh nghề nghiệp thành 29 nhóm với hàng trăm bệnh khác nhau. Còn ở Việt Nam, danh mục các loại bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế chủ trì phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành sau khi lấy ý kiến của Tổng LĐLĐ Việt Nam và tổ chức đại diện người sử dụng lao động. Hiện ở Việt Nam mới có 34 bệnh nghề nghiệp được đưa vào danh mục bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm.

Sự giúp đỡ kịp thời cho doanh nghiệp và người lao động

Nghiên cứu - Trao đổi -

Sự giúp đỡ kịp thời cho doanh nghiệp và người lao động

Ngày 24/8/2021, Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã ban hành Quyết định số 3089/QĐ-TLĐ về hỗ trợ bữa ăn cho đoàn viên, người lao động thực hiện “3 tại chỗ” trên địa bàn các tỉnh, thành phố thực hiện giãn cách theo Chỉ thị 16/CT-TTg. Mức hỗ trợ là 1 triệu đồng/người và thời điểm thực hiện tính từ ngày 24/8/2021, thời điểm Quyết định có hiệu lực.

Lao động nữ làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất và vai trò của công đoàn

Nghiên cứu - Trao đổi -

Lao động nữ làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất và vai trò của công đoàn

Lao động nữ (LĐN) là nhóm lao động đặc thù, ngoài việc chịu điều chỉnh của pháp luật lao động như những NLĐ khác, quyền lợi của LĐN còn được điều chỉnh bởi các quy định riêng. LĐN làm việc tại các KCN, KCX có những đặc điểm riêng về điều kiện làm việc, nhu cầu chăm sóc sức khoẻ, ATVSLĐ, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi…

Hoạt động công đoàn khi Việt Nam tham gia Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới*

Nghiên cứu - Trao đổi -

Hoạt động công đoàn khi Việt Nam tham gia Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới*

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt là một số FTA thế hệ mới, trong đó có các điều khoản về tôn trọng và thúc đẩy các tiêu chuẩn lao động (TCLĐ) cơ bản của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Những cam kết tại các văn bản pháp lý quốc tế này đặt ra nhu cầu cấp thiết về hoàn thiện pháp luật quốc gia tiệm cận xu hướng tiến bộ của thế giới để điều chỉnh hài hòa các quan hệ lao động.

Xem phiên bản di động