Thứ ba 03/08/2021 02:13
banner-trai-xinh-gai-dep

Kinh tế số - động lực quan trọng đưa Việt Nam phát triển

Nghiên cứu - Trao đổi - PGS. TS. Trần Mai Ước - Chánh Văn phòng, Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng có nhiều điểm mới nổi bật, trong đó có nội dung liên quan đến tạo lập cơ sở hạ tầng để chuyển đổi số quốc gia, xây dựng xã hội số và nền kinh tế số (KTS). Nghị quyết Đại hội XIII cũng đã nhấn mạnh việc phát triển KTS trong thời gian tới, xem KTS là một trong các hướng đột phá chiến lược.
Kinh tế số - động lực quan trọng đưa Việt Nam phát triển
Kinh tế số - động lực quan trọng đưa Việt Nam phát triển. Nguồn: ictvietnam.vn

Giá trị KTS Việt Nam và những tồn tại cần tháo gỡ

Theo định nghĩa chung, KTS là “một nền kinh tế vận hành chủ yếu dựa trên công nghệ số (CNS), đặc biệt là các giao dịch điện tử tiến hành thông qua internet”. Ở khía cạnh khác, KTS có khi cũng được gọi là kinh tế internet (internet economy), kinh tế mới (new economy) hoặc kinh tế mạng (web economy). Cho tới nay, các nhà nghiên cứu đồng thuận nhận định là chưa có một định nghĩa được đồng thuận về KTS. Theo quan điểm của chúng tôi, KTS là một phần của nền kinh tế, trong đó lấy việc ứng dụng, sử dụng CNS, dữ liệu số làm nền tảng trong toàn bộ hoạt động của nền kinh tế, hướng đến nâng cao hiệu quả, năng suất trong lao động và kinh doanh.

Thực tế thời gian qua, quá trình chuyển đổi số đã và đang được tiến hành mạnh mẽ. Cốt lõi là các mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của nền kinh tế dựa trên ứng dụng CNS. Lĩnh vực công nghệ kỹ thuật số phát triển đã mở đường cho sự đổi mới và phát triển mang tính toàn cầu. Việc áp dụng những tiến bộ công nghệ trong nhiều năm qua đã tác động vào các ngành kinh doanh cũng như mọi khía cạnh của cuộc sống. CNS thúc đẩy nhiều ngành kinh doanh cải tiến mô hình phát triển, tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và xóa mờ đường biên giới địa lý.

Quy mô nền KTS Việt Nam theo nghiên cứu về KTS thường được dẫn lại trong thời gian qua tại báo cáo do Google và Temasek công bố, chỉ tính riêng bốn lĩnh vực gồm di chuyển (taxi, xe ôm công nghệ, giao hàng, giao thức ăn), thương mại điện tử, quảng cáo trực tuyến và du lịch trực tuyến đã tăng mạnh; dự báo đến năm 2025, qui mô nền KTS Việt Nam sẽ đạt 33 tỉ USD với mức tăng trưởng 25% mỗi năm, cao thứ hai (sau Indonesia) về mức tăng trưởng và cao thứ ba (sau Indonesia và Thái Lan) về qui mô thị trường trong khu vực Đông Nam Á. Việt Nam cũng là một trong những địa điểm đầu tư KTS được ưa thích ở Đông Nam Á, đứng sau Indonesia và Singapore.

Kinh tế số - động lực quan trọng đưa Việt Nam phát triển
Quá trình chuyển đổi số đã và đang được tiến hành mạnh mẽ thời gian qua ở Việt Nam. Nguồn: ictvietnam.vn

Trong năm 2020, các xu hướng nổi trội liên quan đến kinh tế internet mà chúng ta có thể kể đến là: Thương mại điện tử, Truyền thông Trực tuyến, Giao thông & Thực phẩm, Du lịch Trực tuyến, Dịch vụ Tài chính Kỹ thuật số, trong đó Y tế Kỹ thuật số (HealthTech) và Giáo dục Kỹ thuật số (EdTech) là hai lĩnh vực mới được bổ sung. Tại Việt Nam, trong khoảng thời gian giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19, người tiêu dùng bắt đầu tìm kiếm giải pháp cho những vấn đề đột ngột phát sinh thông qua mạng internet. Rất nhiều người đã dùng thử các dịch vụ kỹ thuật số mới. Cụ thể, trong tổng số người sử dụng dịch vụ kỹ thuật số, người dùng mới tại Việt Nam chiếm đến 41%, là nước có tỉ lệ người dùng internet mới cao nhất trong khu vực; 94% số người dùng mới này sẽ tiếp tục sử dụng các dịch vụ đó kể cả sau đại dịch.

Đại dịch Covid-19 vừa qua cùng với các lệnh giãn cách xã hội đã giúp doanh nghiệp nhận ra vai trò ngày một quan trọng của chuyển đổi số. Tuy nhiên, cũng chính đại dịch Covid-19 đã cho thấy quá trình chuyển đổi số tại Việt Nam đang phải đối đầu với một số hạn chế cơ bản, cụ thể:

Một là, hạ tầng và dịch vụ số, bao gồm hạ tầng cứng và mạng lưới viễn thông làm nền tảng để tạo ra hạ tầng mềm là dịch vụ số, giúp tối ưu các hoạt động của nền kinh tế vẫn chưa đáp ứng tối đa như kỳ vọng. Tài nguyên số bao gồm hệ sinh thái dữ liệu (cơ sở dữ liệu quốc gia về nông nghiệp, tài chính, dân cư, quản lý đất đai) và tri thức mở, có ích cho việc dự đoán kịp thời và ra quyết định mang lại hiệu quả kinh tế cao, chưa được thực hiện hoàn thiện so với đòi hỏi của thực tiễn.

Kinh tế số - động lực quan trọng đưa Việt Nam phát triển
Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ người sử dụng mạng internet lớn nhất trong khu vực. Đây là một thuận lợi trong việc phát triển nền kinh tế số. Ảnh minh họa

Hai là, chính sách chuyển đổi số, bao gồm các dịch vụ, chính sách chuyển đổi từ Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, chính sách đào tạo nhân lực số chất lượng cao, chính sách đầu tư kinh doanh số, chính sách an toàn thông tin, chủ quyền số và sở hữu trí tuệ còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa theo kịp xu thế của sự phát triển. Vấn đề bảo vệ quyền riêng tư trên môi trường internet, bảo đảm an toàn, an ninh trong môi trường số, việc rò rỉ dữ liệu, mua bán và khai thác dữ liệu cá nhân, doanh nghiệp cũng đang là vấn đề đáng quan tâm trong phát triển nền KTS ở Việt Nam hiện nay.

Ba là, công tác quản lý nhà nước, một số quy định pháp luật không theo kịp với các mô hình kinh doanh trong nền KTS, đặc biệt là vấn đề thu thuế, đảm bảo quyền lợi cho NLĐ đối với các hoạt động thương mại và cung cấp dịch vụ xuyên biên giới hiện nay.

Bốn là, Việt Nam còn thiếu kỹ năng số và nhân lực, thiếu tư duy kỹ thuật số hoặc các thách thức về văn hóa kỹ thuật số trong doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam.

Kinh tế số - động lực quan trọng đưa Việt Nam phát triển
Giáo dục, đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao là “chìa khóa” của nền kinh tế số. Nguồn: tapchicongsan.org.vn

Đâu là giải pháp?

Thứ nhất, cần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, tạo nguồn nhân lực cho nền KTS. Việc làm này có thể triển khai theo hướng thúc đẩy và nâng cao mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp. Các cơ sở giáo dục đại học cần có những khóa đào tạo lại và nâng cao, kéo dài chỉ 6-12 tháng để cấp chứng chỉ chứ không phải đào tạo bằng cấp. Chương trình đào tạo nhân lực công nghệ thông tin cần gắn với các xu thế công nghệ mới như: internet kết nối vạn vật (Internet of Things - IoT), công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ robot, đẩy mạnh liên kết đào tạo và thực hành giữa các trường và khu vực doanh nghiệp trong ứng dụng công nghệ thông tin.

Thứ hai, có cơ chế thúc đẩy phát triển KTS tại các vùng kinh tế trọng điểm, từ đó tạo nên sự phát triển kinh tế bền vững cho các vùng kinh tế này. Xét bản chất, các vùng kinh tế trọng điểm là nơi có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nơi tập trung sản xuất công nghiệp của cả nước mà còn là nơi có hệ thống các trường đại học, viện, trung tâm nghiên cứu hàng đầu; bảo đảm đào tạo và cung cấp nhân lực cho cả vùng, có nhiều thuận lợi để phát triển KTS.

Thứ ba, Nhà nước nên phân bổ phù hợp ngân sách cho các địa phương; kích thích các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm cùng hợp tác phát triển hạ tầng. Nhà nước cũng cần có chính sách hỗ trợ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong vùng kinh tế trọng điểm. Chính phủ cần tạo không gian thử nghiệm đi đôi với hỗ trợ doanh nghiệp để phát triển nền KTS. Bởi các ứng dụng CNS sẽ là “cú hích” quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo của các cá nhân và doanh nghiệp.

Kinh tế số - động lực quan trọng đưa Việt Nam phát triển
Dây chuyền sản xuất tự động với hệ thống đóng gói chi tiết máy in đang được công nhân Công ty CNCVina (Hà Nội) chạy thử trước khi bàn giao cho khách hàng Nhật Bản. Nguồn: cncvina.com.vn

Thứ tư, để phát triển KTS theo hướng bền vững, chính quyền các địa phương, doanh nghiệp cần khẩn trương nâng cấp hạ tầng số, trong đó có việc chuẩn bị các phương án triển khai dịch vụ 5G - 6G cũng như các hạng mục hạ tầng công nghệ khác có liên quan.

Thứ năm, chú trọng đối ngoại đa phương với các tổ chức từ cấp độ toàn cầu, liên khu vực, khu vực nhằm xây dựng những quy tắc phối hợp và ứng xử chung, các hiệp định, công ước và thỏa thuận hợp tác, phối hợp trên những vấn đề liên quan nảy sinh từ sự phát triển của KTS nhằm bảo đảm an ninh thông tin, an ninh mạng.

Thứ sáu, cần thay đổi tư duy và cách thức quản lý nhà nước cho phù hợp với xu thế KTS và CMCN 4.0.

Thứ bảy, các Bộ, ngành, từng địa phương, từng doanh nghiệp cho đến người dân phải hành động để đưa chủ trương “phát triển KTS” trong các văn kiện của Đại hội XIII vào cuộc sống.

Kinh tế số - động lực quan trọng đưa Việt Nam phát triển
Cùng với ngân hàng số, du lịch số... y tế số đang là một xu hướng nổi lên gần đây. Trong ảnh: Buổi hội chẩn khám chữa bệnh từ xa tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Nguồn: vov.vn

Kết luận

Thực tiễn thời gian vừa qua tại Việt Nam chứng minh rằng, việc chuyển đổi số, hướng tới xây dựng KTS đã có những kết quả bước đầu. Phát triển KTS sẽ góp phần quan trọng làm thay đổi từ phương thức quản lý Nhà nước, mô hình sản xuất kinh doanh, tiêu dùng đến đời sống văn hóa, xã hội, thúc đẩy phát triển xã hội số. Văn kiện Đại hội Đảng XIII đặt ra yêu cầu thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số quốc gia, phát triển KTS, xã hội số để tạo bứt phá về nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh hiện nay và sắp tới là điều mang tính tất yếu khách quan trong sự vận động và phát triển của Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

  1. Think Tank Vinasa (2019), Việt Nam thời chuyển đổi số, Nxb Thế giới, HN.
  2. Đảng CSVN Việt Nam (2021), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII.
  3. Don Tapscott (1995), The Digital Economy: Promise and Peril in the Age of Networked Intelligence. McGraw-Hill.
  4. Trần Mai Ước (2021), KTS Việt Nam - Những điểm nghẽn và các giải pháp cơ bản để phát triển theo hướng bền vững, Tạp chí Khoa học Chính trị, ISSN: 1859-0187, số 2, trang 48-53.
  5. https://vfo.vn/r/bao-cao-ve-kinh-te-so-dong-nam-a-2020-dat-muc-100-ty-usd-40-trieu-nguoi-dung-internet-moi.140869/
  6. https://www.vcci.com.vn/viet-nam-dang-o-dau-trong-xu-the-kinh-te-so

7. https://forbesvietnam.com.vn/tin-cap-nhat/5-nam-gia-tri-nen-kinh-te-so-viet-nam-tang-gap-bon-lan-7818.html

Nhờ em gái chăm con, lên đường hỗ trợ TP.HCM chống dịch Nhờ em gái chăm con, lên đường hỗ trợ TP.HCM chống dịch

Chưa một lần rời xa con quá một ngày, thế nhưng khi nhận được lệnh lên đường chi viện cho TP.HCM, nữ điều dưỡng đã ...

Công nhân vệ sinh môi trường: Nụ cười trở lại khi công ty trả hết nợ lương Công nhân vệ sinh môi trường: Nụ cười trở lại khi công ty trả hết nợ lương

Hơn 4 tỷ đồng là số tiền mà Công ty CP Tập đoàn Nam Hà Nội trả cho các công nhân vệ sinh môi trường ...

Nữ công nhân F1 có 6 người nhà F0: “Đến bây giờ, nhà tôi vẫn nhìn nhau từ xa” Nữ công nhân F1 có 6 người nhà F0: “Đến bây giờ, nhà tôi vẫn nhìn nhau từ xa”

Ngay sau khi ổ dịch tại Công ty TNHH Hosiden Việt Nam bùng phát, chị Nguyễn Thị Nguyệt (khi đó là công nhân thuộc diện ...

Chia sẻ

Tin cùng chuyên mục

Nghị quyết 02 và những thông điệp đổi mới tổ chức, hoạt động của Công đoàn

Nghiên cứu - Trao đổi -

Nghị quyết 02 và những thông điệp đổi mới tổ chức, hoạt động của Công đoàn

Xây dựng đội ngũ chủ tịch CĐCS ngoài khu vực nhà nước đủ năng lực, phẩm chất, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ là một lựa chọn trong khâu đột phá của Đại hội XII Công đoàn Việt Nam (CĐVN). Những giải pháp thực hiện nhiệm vụ quan trọng này sẽ có cơ hội được đẩy mạnh toàn diện trong quá trình triển khai Nghị quyết số 02-NQ/TW, ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị về đổi mới tổ chức và hoạt động của CĐVN trong tình hình mới (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 02).

Ý nghĩa việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 02-NQ/TW của Bộ Chính trị

Nghiên cứu - Trao đổi -

Ý nghĩa việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 02-NQ/TW của Bộ Chính trị

Lịch sử xây dựng và phát triển của Công đoàn Việt Nam hơn 90 năm qua gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Công đoàn Việt Nam luôn là cơ sở chính trị - xã hội vững chắc của Đảng và Nhà nước ta. Do vậy, ở mỗi giai đoạn, thời kỳ cách mạng, Đảng luôn có những định hướng, chỉ đạo và lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, kịp thời đối với hoạt động Công đoàn Việt Nam. Việc Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 02-NQ/TW (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 02), ngày 12/06/2021 Về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam là minh chứng mới nhất cho điều đó.

Quan điểm của Lê-nin về vai trò của công đoàn và sự vận dụng vào điều kiện ở nước ta

Nghiên cứu - Trao đổi -

Quan điểm của Lê-nin về vai trò của công đoàn và sự vận dụng vào điều kiện ở nước ta

Nghị quyết số 02-NQ/TW, ngày 12/06/2021 của Bộ Chính trị Về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới là văn bản cực kỳ quan trọng chỉ đạo hoạt động của tổ chức Công đoàn Việt Nam trong các thập kỷ tới. Nhân dịp này, chúng ta cùng điểm lại một số quan điểm của V.I.Lê-nin về vai trò của công đoàn trong thời kỳ quá độ để vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta, góp phần thắng lợi đưa Nghị quyết 02-NQ/TW vào cuộc sống.

Một vài suy nghĩ về việc quán triệt, triển khai, thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW

Nghiên cứu - Trao đổi -

Một vài suy nghĩ về việc quán triệt, triển khai, thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW

Với tinh thần trách nhiệm cao và niềm tự hào về tổ chức Công đoàn Việt Nam khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 02 Về tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới; mỗi cán bộ, đoàn viên công đoàn cần nhận thức đúng vị trí, vai trò trách nhiệm của mình trong việc thực hiện Nghị quyết, góp phần xây dựng tổ chức Công đoàn, GCCN ngày càng vững mạnh, xứng đáng với niềm tin của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Những biến đổi tích cực trong cơ cấu giai cấp công nhân nước ta hiện nay

Nghiên cứu - Trao đổi -

Những biến đổi tích cực trong cơ cấu giai cấp công nhân nước ta hiện nay

Tác động của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ, hội nhập quốc tế và sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước đã dẫn đến những biến đổi lớn trong cơ cấu xã hội và bản thân mỗi giai cấp. Trong đó, giai cấp công nhân (GCCN) Việt Nam đã phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, năng động, sáng tạo, chủ động hơn trong quá trình sản xuất kinh doanh.

GDNN trong bối cảnh Covid-19 - kinh nghiệm từ một số nước và gợi ý cho Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi -

GDNN trong bối cảnh Covid-19 - kinh nghiệm từ một số nước và gợi ý cho Việt Nam

Cuộc khủng hoảng Covid-19 toàn cầu gây ra áp lực lớn và chưa từng có đối với các chính phủ và các cơ quan, doanh nghiệp ở tất cả các lĩnh vực. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp (GDNN) cũng bị tác động nặng nề và gặp khó khăn không nhỏ trong việc dự đoán, thích ứng với một thị trường lao động thay đổi trong thời gian tới. Các quốc gia trên thế giới đã đề ra những cách ứng phó với khủng hoảng khi dịch bệnh diễn ra và đó có thể được xem là những bài học tham khảo cho phát triển GDNN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Đọc thêm

Cán bộ công đoàn - Thủ lĩnh của những người lao động

Công đoàn Việt Nam -

Cán bộ công đoàn - Thủ lĩnh của những người lao động

Mối quan tâm thường trực của người lao động (NLĐ) luôn là lương và thu nhập. Không nhiều nhà đầu tư sẵn sàng chia sẻ “miếng bánh” này với NLĐ, mặc dù trong số họ có nhiều người thường nói NLĐ là tài sản quý nhất của doanh nghiệp. Vì vậy, hiểu rõ và thông cảm, sẻ chia với những khó khăn của NLĐ là yêu cầu số một của cán bộ công đoàn - những người giữ vai trò là thủ lĩnh của công nhân lao động (CNLĐ). Là người có nhiều năm nghiên cứu về đội ngũ cán bộ công đoàn - những thủ lĩnh, tôi có một số suy nghĩ về yêu cầu đặt ra với người thủ lĩnh này.

Khơi dậy tinh thần đoàn kết phòng, chống dịch Covid-19 trong điều kiện mới

Công đoàn Việt Nam -

Khơi dậy tinh thần đoàn kết phòng, chống dịch Covid-19 trong điều kiện mới

Dịch bệnh Covid-19 tiếp tục lan rộng như cú đánh bồi vào cơ thể vốn đã ốm yếu của nhiều nền kinh tế. Trong lúc này, Đảng ta kêu gọi toàn thể dân tộc Việt Nam hãy phát huy tinh thần đoàn kết, chống dịch như chống giặc để phát triển đất nước trong trạng thái bình thường mới.

Vai trò của CNVCLĐ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương Thanh Hóa

Nghiên cứu - Trao đổi -

Vai trò của CNVCLĐ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương Thanh Hóa

Sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, chưa bao giờ Thanh Hóa có được tiềm lực và vị thế to lớn như ngày nay. Kết quả ấy khẳng định sự đoàn kết, thống nhất cao trong toàn Đảng bộ và đồng thuận trong nhân dân; sự nỗ lực, cố gắng của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp, nhân dân các dân tộc và sự đóng góp quan trọng của đội ngũ CNVCLĐ trên địa bàn tỉnh.

Quan hệ giữa báo chí và doanh nghiệp gắn với trách nhiệm xã hội và phát triển đất nước

Nghiên cứu - Trao đổi -

Quan hệ giữa báo chí và doanh nghiệp gắn với trách nhiệm xã hội và phát triển đất nước

Theo tiến trình phát triển chung của nhân loại, báo chí cũng phát triển hết sức nhanh chóng và ngày nay đã trở thành một thứ quyền năng đặc biệt, tác động mạnh mẽ đến mọi mối quan hệ xã hội, mọi lĩnh vực đời sống của con người hiện đại. Cùng trong điều kiện ấy, chưa bao giờ mối quan hệ giữa báo chí với doanh nghiệp lại chặt chẽ và phức tạp như ngày nay.

Xem phiên bản di động