Thứ hai 27/09/2021 19:48
npk-phu-my
banner-trai-xinh-gai-dep

Mô hình phù hợp đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ

Nghiên cứu - Trao đổi - TS. Phạm Thị Thu Lan - Viện Công nhân và Công đoàn

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến thời điểm 31/12/2018, trong số 610.637 doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh trên cả nước, có tới 98,1% là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ (từ 100 lao động trở xuống). Riêng doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ (từ 10 lao động trở xuống) có 382.444 doanh nghiệp, chiếm 62,6% số doanh nghiệp cả nước.
Mô hình phù hợp đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ
Liên đoàn Lao động TP. Bảo Lộc (Lâm Đồng) trao quyết định thành lập công đoàn cơ sở Công ty cổ phần Công nghệ xanh Lộc Châu (Lâm Đồng).

Mô hình phù hợp

Hiện đa số NLĐ ở các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, dưới 25 lao động chưa tham gia công đoàn. Nhu cầu của NLĐ được tham gia công đoàn, được công đoàn đại diện và bảo vệ ở các doanh nghiệp này là nhu cầu chính đáng. Trong thực tế, NLĐ làm việc trong các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, dưới 25 lao động thường có việc làm bấp bênh và không bảo đảm, ít được thanh tra lao động, thường nảy sinh rất nhiều vấn đề, nhất là về tuân thủ các quy định của Nhà nước liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng như: tiền lương, điều kiện làm việc, ATVSLĐ, bảo đảm việc làm, BHXH, BHYT...

Các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ có độ ổn định không cao, việc thành lập và giải thể diễn ra dễ dàng. Vì vậy việc thành lập CĐCS theo mô hình trong phạm vi doanh nghiệp là không bền vững vì NLĐ sẽ tự nhiên bị ra khỏi công đoàn khi doanh nghiệp giải thể. Công đoàn sẽ mất đoàn viên sau khi CĐCS trong doanh nghiệp giải thể. Đó là chưa kể tới thực trạng nhiều doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ đăng ký ảo, không tồn tại; thậm chí có thể hai, ba doanh nghiệp cùng đăng ký hoạt động, nhưng trên thực tế cũng vẫn là những NLĐ đó. Vì vậy, trong khu vực các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, dưới 25 lao động thì mô hình CĐCS phù hợp là CĐCS ghép.

Thực trạng mô hình CĐCS ghép hiện nay

Mô hình CĐCS ghép được bắt đầu được thực hiện từ năm 2014, thông qua Hướng dẫn số 238/HD-TLĐ ngày 04/3/2014 của Tổng LĐLĐ Việt Nam, nhưng thuật ngữ “CĐCS ghép” lần đầu tiên được sử dụng trong Hướng dẫn số 703/HD-TLĐ ngày 06/5/2009 của Tổng LĐLĐ Việt Nam hướng dẫn thi hành Điều lệ Công đoàn Việt Nam, theo đó, Điểm b Điều 10 quy định: “Các doanh nghiệp có đủ điều kiện về đoàn viên, có tư cách pháp nhân nhưng có chung chủ sở hữu hoặc cùng ngành nghề, lĩnh vực hoạt động trên địa bàn nếu tự nguyện liên kết thì thành lập CĐCS có cơ cấu CĐCS thành viên”.

Mô hình phù hợp đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ
Cán bộ Liên đoàn Lao động TP. Cần Thơ phát tờ rơi tuyên truyền về trật tự an toàn giao thông cho người lao độngtại Khu Công nghiệp - Chế xuất Trà Nóc, quận Bình Thủy.

Hiện tại chỉ còn có 9 CĐCS ghép đang hoạt động ở các đơn vị trong lĩnh vực doanh nghiệp cơ khí, trường mầm non, doanh nghiệp điện tử, doanh nghiệp thương mại, các văn phòng đại diện và một số doanh nghiệp trong các KCN. Các CĐCS ghép này được thành lập chính thức thông qua quyết định của công đoàn cấp trên cơ sở. Đặc điểm của CĐCS ghép là số lượng đoàn viên ít, nhiều nhất cũng chỉ lên tới vài chục đoàn viên, dẫn tới nguồn kinh phí đóng góp từ đoàn viên quá ít. Do hạn chế về kinh phí nên việc tổ chức các hoạt động công đoàn theo cách truyền thống không hiệu quả.

Hơn nữa, ở các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, dưới 25 lao động, những nội dung hoạt động công đoàn mang tính chất xã hội và phong trào như đã nêu ở trên không phải là hoạt động sát sườn với NLĐ, vì các hoạt động này không gắn với quyền lợi trực tiếp của NLĐ như: không gắn với việc làm và thu nhập, không đi vào thực chất những vấn đề bức xúc, cấp bách mà NLĐ gặp phải hằng ngày trong công việc. Vì vậy, sau một thời gian hoạt động phong trào ở CĐCS ghép, NLĐ thấy công đoàn không thiết thực, thậm chí nhiều người thấy công đoàn không liên quan đến họ. Từ đó, vai trò công đoàn dần dần mờ nhạt, dẫn đến CĐCS ghép tự tan hoặc chỉ tồn tại trên danh nghĩa.

Có thể thấy, việc thành lập CĐCS ghép cho đến nay chỉ đạt được mục tiêu thành lập được CĐCS ghép nhưng hầu như các CĐCS ghép đều “bế tắc” trong hoạt động sau khi thành lập. Trong thực tiễn, với số lượng đoàn viên ít, kinh phí ít, nội dung hoạt động thiếu trọng tâm và chưa thiết thực với NLĐ, nên các CĐCS ghép gần như không hoạt động gì và một số CĐCS ghép đã “tự giải thể”. Vì vậy, rất cần điều chỉnh mô hình thành lập và hoạt động của CĐCS ghép theo phương thức mới để tập hợp, đại diện và bảo vệ NLĐ trong khu vực này, vì nếu không thay đổi, Công đoàn Việt Nam sẽ rất khó để vươn ra khu vực này, để lại khoảng trống cho sự xuất hiện của các tổ chức đại diện khác của NLĐ trong thời gian tới.

Mô hình phù hợp đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ
Trao quyết định kết nạp đoàn viên cho công nhân lao động của Công ty TNHH Tân Mahang Việt Nam (Quảng Ngãi).

Để CĐCS ghép hoạt động hiệu quả

Rút kinh nghiệm từ thực tiễn hoạt động của CĐCS ghép, để CĐCS ghép hoạt động hiệu quả, việc thành lập và hoạt động CĐCS ghép cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, CĐCS ghép chỉ thuần túy bao gồm đoàn viên là những NLĐ có cùng những vấn đề như nhau tại nơi làm việc liên quan tới việc làm của họ trong mối quan hệ với NSDLĐ, nghĩa là những NLĐ có cùng nghề như nhau. Đây là nguồn gốc của công đoàn ngành nghề. “Cái gốc” của công đoàn là NLĐ gặp phải những vấn đề như nhau tại nơi làm việc hợp lại với nhau và cùng nhau thành lập tổ chức để có sức mạnh và vị thế pháp lý nhằm “tự cứu” chính mình.

Thứ hai, hoạt động trọng tâm và then chốt của CĐCS ghép là thực hiện đối thoại và thương lượng tập thể về các vấn đề nảy sinh tại nơi làm việc với NSDLĐ nhằm giải quyết vấn đề và từng bước đưa đến sự cải thiện điều kiện làm việc; gạt sang một bên các vấn đề khác như thăm, hỏi, hiếu, hỉ, văn hóa, thể thao... trong nội bộ tổ chức Công đoàn. Mục tiêu hoạt động là kiên trì thuyết phục, tạo sự đồng thuận của những NSDLĐ để đi đến đối thoại và thương lượng, ký kết thỏa ước tập thể.

Thứ ba, thành lập CĐCS ghép và xây dựng năng lực thực hiện chiến lược hành động của CĐCS ghép phải là hai bước đi liền với nhau. Mục tiêu của thí điểm là tập thể NLĐ phải có một chiến lược hành động thông qua đối thoại và thương lượng tập thể sẵn sàng trước khi thành lập CĐCS ghép. Việc thành lập CĐCS ghép chỉ là bước thủ tục để đưa tới hình thành một tổ chức có tư cách pháp nhân nhằm thực hiện chiến lược đề ra. Điều này có nghĩa, nếu tập thể NLĐ chưa sẵn sàng và chưa có khả năng thực hiện đối thoại và thương lượng tập thể về các vấn đề của họ tại nơi làm việc thì chưa thành lập CĐCS ghép.

Thứ tư, quá trình vận động thành lập CĐCS ghép chính là quá trình giáo dục tập thể NLĐ để họ hiểu về công đoàn, hiểu về vai trò của NLĐ trong công đoàn, biết cách giao tiếp, trao đổi với nhau để cùng nhau xây dựng chiến lược hành động và thực hiện chiến lược. Sau khi hiểu rõ và sẵn sàng hành động, tập thể NLĐ làm các thủ tục thành lập CĐCS ghép và bầu ra người đại diện cho mình để bắt đầu thực hiện chiến lược. Nguyên tắc hoạt động của CĐCS ghép là “của NLĐ, do NLĐ và vì NLĐ”. Điều này có nghĩa là nếu NLĐ chưa hiểu và chưa sẵn sàng cho chiến lược hành động của mình thì chưa thành lập CĐCS ghép. Vai trò của công đoàn cấp trên là giúp đỡ và hỗ trợ quá trình thành lập CĐCS ghép bằng việc xây dựng năng lực cho tập thể NLĐ.

Mô hình phù hợp đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ

Doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ thường có tính chất gia đình việc thành lập CĐCS ở loại hình doanh nghiệp này gặp rất nhiều khó khăn.

Thứ năm, cách tiếp cận của phương pháp mới là tiếp cận NLĐ và xây dựng năng lực để NLĐ thành lập CĐCS ghép. Công đoàn cấp trên thực hiện thí điểm sẽ tiếp cận NLĐ trong cộng đồng và triển khai các hoạt động với NLĐ ngoài doanh nghiệp. Việc tiếp cận NSDLĐ chỉ được thực hiện bởi chính NLĐ thông qua CĐCS ghép của họ để thực hiện đối thoại và thương lượng tập thể về các vấn đề tại nơi làm việc.

Kết luận

Việt Nam đã tham gia Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) có cam kết về lao động; đã phê chuẩn Công ước 98 của Tổ chức Lao động Quốc tế về thương lượng tập thể, tiến tới phê chuẩn Công ước 87 về tự do hiệp hội theo cam kết; vì vậy, trong tương lai sẽ xuất hiện các tổ chức đại diện khác của NLĐ và cạnh tranh trực tiếp với tổ chức Công đoàn Việt Nam trong việc đại diện và bảo vệ NLĐ. Bộ luật Lao động (sửa đổi, bổ sung) năm 2019 đã cho phép NLĐ có quyền thành lập các tổ chức đại diện khác ngoài hệ thống Công đoàn Việt Nam. Điều này đòi hỏi công đoàn các cấp phải tập hợp NLĐ ở các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, dưới 25 lao động tham gia công đoàn và thực hiện hiệu quả chức năng đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ ở khu vực này. Thực hiện mô hình CĐCS ghép theo năm nguyên tắc vận hành của CĐCS ghép nói trên sẽ giúp cho Công đoàn Việt Nam tập hợp được đoàn viên và xây dựng sức mạnh của tổ chức Công đoàn để ứng phó với các thách thức trong tình hình mới.

Vươn lên nhờ Vươn lên nhờ "vòng tay Công đoàn"

Công đoàn Trường Mầm non Chiềng Hắc đã truyền cảm hứng, niềm say mê và ngọn lửa nhiệt huyết cống hiến cho mỗi giáo viên ...

“Ô tô siêu thị 0 đồng” hỗ trợ công nhân khu công nghiệp “Ô tô siêu thị 0 đồng” hỗ trợ công nhân khu công nghiệp

Công đoàn các Khu công nghiệp và Chế xuất Hà Nội vừa trao 2.000 "Túi An sinh Công đoàn" dành cho công nhân, lao động ...

"Nhờ công đoàn, giấc mơ an cư của tôi đã thành sự thật"

“Tôi từng có một giấc mơ rất kỳ lạ, ở đó, tôi thấy mình và con được sống trong một ngôi nhà khang trang, ...

Chia sẻ

Tin cùng chuyên mục

Bảo đảm an toàn cho các nhân viên y tế trên tuyến đầu chống dịch

Nghiên cứu - Trao đổi -

Bảo đảm an toàn cho các nhân viên y tế trên tuyến đầu chống dịch

Sự bùng phát nhanh chóng của đại dịch Covid-19 đã biến các nhân viên y tế (NVYT) trở thành lực lượng tuyến đầu trong cuộc chiến ngăn chặn đại dịch. Do tính chất nghề nghiệp, hàng triệu NVYT đã và đang phải mạo hiểm sức khỏe cũng như sự an toàn của bản thân vì sức khỏe của cộng đồng. Nhận diện những rủi ro và đưa ra các giải pháp nhằm đảm bảo an toàn lao động (ATLĐ) và sức khỏe nghề nghiệp (SKNN) cho NVYT rất cần được ưu tiên trong giai đoạn hiện nay.

Covid-19 là một bệnh nghề nghiệp - Quan điểm và đề xuất

Nghiên cứu - Trao đổi -

Covid-19 là một bệnh nghề nghiệp - Quan điểm và đề xuất

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã phân loại bệnh nghề nghiệp thành 29 nhóm với hàng trăm bệnh khác nhau. Còn ở Việt Nam, danh mục các loại bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế chủ trì phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành sau khi lấy ý kiến của Tổng LĐLĐ Việt Nam và tổ chức đại diện người sử dụng lao động. Hiện ở Việt Nam mới có 34 bệnh nghề nghiệp được đưa vào danh mục bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm.

Sự giúp đỡ kịp thời cho doanh nghiệp và người lao động

Nghiên cứu - Trao đổi -

Sự giúp đỡ kịp thời cho doanh nghiệp và người lao động

Ngày 24/8/2021, Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã ban hành Quyết định số 3089/QĐ-TLĐ về hỗ trợ bữa ăn cho đoàn viên, người lao động thực hiện “3 tại chỗ” trên địa bàn các tỉnh, thành phố thực hiện giãn cách theo Chỉ thị 16/CT-TTg. Mức hỗ trợ là 1 triệu đồng/người và thời điểm thực hiện tính từ ngày 24/8/2021, thời điểm Quyết định có hiệu lực.

Lao động nữ làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất và vai trò của công đoàn

Nghiên cứu - Trao đổi -

Lao động nữ làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất và vai trò của công đoàn

Lao động nữ (LĐN) là nhóm lao động đặc thù, ngoài việc chịu điều chỉnh của pháp luật lao động như những NLĐ khác, quyền lợi của LĐN còn được điều chỉnh bởi các quy định riêng. LĐN làm việc tại các KCN, KCX có những đặc điểm riêng về điều kiện làm việc, nhu cầu chăm sóc sức khoẻ, ATVSLĐ, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi…

Hoạt động công đoàn khi Việt Nam tham gia Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới*

Nghiên cứu - Trao đổi -

Hoạt động công đoàn khi Việt Nam tham gia Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới*

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt là một số FTA thế hệ mới, trong đó có các điều khoản về tôn trọng và thúc đẩy các tiêu chuẩn lao động (TCLĐ) cơ bản của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Những cam kết tại các văn bản pháp lý quốc tế này đặt ra nhu cầu cấp thiết về hoàn thiện pháp luật quốc gia tiệm cận xu hướng tiến bộ của thế giới để điều chỉnh hài hòa các quan hệ lao động.

Đọc thêm

Thực tiễn về đối thoại xã hội trong quan hệ lao động

Nghiên cứu - Trao đổi -

Thực tiễn về đối thoại xã hội trong quan hệ lao động

Đối thoại xã hội (ĐTXH) là con đường quan trọng để thúc đẩy việc thực hiện hiệu quả các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động tại nơi làm việc.

Thực trạng tiền lương, thu nhập, đời sống của người lao động Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi -

Thực trạng tiền lương, thu nhập, đời sống của người lao động Việt Nam

Tiền lương là điều kiện vật chất để NLĐ sống và hành động. Điều kiện vật chất ngày càng đầy đủ, dư dả sẽ càng giải phóng con người khỏi những lo toan thường nhật. Thị trường lao động ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng lụy vào tiền lương nhiều hơn, và do đó, người ta càng chăm chú tìm những cơ sở sản xuất kinh doanh (SXKD) có thể lo được các mức lương khả dĩ hơn.

Phát huy vai trò của công đoàn trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Nghiên cứu - Trao đổi -

Phát huy vai trò của công đoàn trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị Về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới nêu rõ: “Xây dựng Công đoàn Việt Nam vững mạnh là góp phần quan trọng xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân và bảo vệ chế độ XHCN”.

Xây dựng giai cấp công nhân, Công đoàn Việt Nam vững mạnh

Nghiên cứu - Trao đổi -

Xây dựng giai cấp công nhân, Công đoàn Việt Nam vững mạnh

Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới khẳng định: “Xây dựng Công đoàn Việt Nam vững mạnh và xây dựng giai cấp công nhân (GCCN) Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới là trách nhiệm của Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội”. Đây là quan điểm hàng đầu trong việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong bối cảnh mới, dựa trên cơ sở lý luận sâu sắc và cơ sở thực tiễn sinh động.

Những vấn đề đặt ra đối với tổ chức và hoạt động công đoàn

Nghiên cứu - Trao đổi -

Những vấn đề đặt ra đối với tổ chức và hoạt động công đoàn

92 năm ra đời và phát triển, tổ chức Công đoàn Việt Nam ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị và bảo vệ quyền lợi người lao động (NLĐ). Song, việc thực hiện các cam kết về lao động trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đang đặt ra nhiều thách thức trong tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam.

Xem phiên bản di động