Chủ nhật 24/10/2021 21:52
banner-trai-xinh-gai-dep

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển văn hóa

Nghiên cứu - Trao đổi - Trần Quốc Dân

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam; đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (CLNNL), phát triển con người. Mục tiêu xây dựng và phát triển văn hóa (PTVH) cũng là mục tiêu xây dựng và phát triển con người mới Việt Nam, đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là chủ thể của sự phát triển.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển văn hóa
Đầu tư phát triển hiệu quả nguồn nhân lực không chỉ tăng cường nguồn lao động sáng tạo nội sinh của văn hóa dân tộc mà còn để nâng cao năng lực làm chủ công nghệ và tiếp thu những thành tựu khoa học hiện đại. Nguồn: tapchitaichinh.vn

1. Sự cần thiết phải nâng cao CLNNL và PTVH

CLNNL là khả năng tổng hợp về thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách, đặc điểm lối sống, tinh thần và đặc biệt là khả năng nghiên cứu, sáng tạo, đổi mới, tiếp thu và ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ mới trong quá trình lao động, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Yếu tố con người luôn đóng vai trò trung tâm của mọi quá trình phát triển. PTVH để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, khát vọng phát triển và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của nền văn hóa và con người Việt Nam, hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao (NNLCLC), thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, đất nước ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới. Yêu cầu nâng cao CLNNL có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và phát triển bền vững. Trong công cuộc cải biến xã hội vô cùng sâu sắc này, nguồn NNLCLC là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Việc ứng dụng những thành tựu của khoa học, kỹ thuật và công nghệ để phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi phải có NNLCLC đáp ứng.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển văn hóa, đặt con người vào trung tâm của sự phát triển
NNLCLC có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Nguồn: vietnamplus.vn

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, đất nước ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới. Yêu cầu nâng cao CLNNL có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và phát triển bền vững. Trong công cuộc cải biến xã hội vô cùng sâu sắc này, nguồn NNLCLC là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Việc ứng dụng những thành tựu của khoa học, kỹ thuật và công nghệ để phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi phải có NNLCLC đáp ứng. NNLCLC sẽ bảo đảm rút ngắn thời gian thực hiện CNH, HĐH đất nước. Nước ta tiến hành CNH, HĐH trong bối cảnh của một nước nông nghiệp, nếu không có NNLCLC thì không thể thực hiện những bước nhảy vọt, đi tắt đón đầu. NNLCLC cũng là điều kiện cho việc phát triển nền kinh tế tri thức. Chỉ có NNLCLC mới bảo đảm cho những mục tiêu phát triển, trong đó có mục tiêu phát triển nền kinh tế tri thức.

NNLCLC cũng bảo đảm cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Nền kinh tế phát triển bền vững hay không phụ thuộc nhiều vào năng lực cạnh tranh quốc gia cao hay thấp. Vì vậy, NNLCLC là một trong những nhân tố quan trọng nhất xác định năng lực cạnh tranh quốc gia, bởi nó có vai trò quyết định trong việc khai thác, sử dụng, bảo vệ, tái tạo các nguồn lực khác.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển văn hóa, đặt con người vào trung tâm của sự phát triển
Nâng cao CLNNL có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và phát triển bền vững. Ảnh: Thiên Lý

2. PTVH góp phần nâng cao CLNNL

Văn hóa do con người sáng tạo ra. Trong đời sống xã hội, văn hóa vừa phản ánh hiện thực của con người, vừa thúc đẩy sự phát triển, sự hoàn thiện nhân cách, làm phong phú và sâu sắc thêm các giá trị nhân bản, nhân đạo và nhân văn của đời sống xã hội. Văn hóa thúc đẩy sự phát triển đồng thời là kết quả của phát triển, là thước đo sự phát triển con người và xã hội.

Nói tới văn hóa là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực bản chất của con người, nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội. Dưới góc độ văn hóa, đi sâu nghiên cứu vào CLNNL với tư cách là động lực sáng tạo con người, có thể thấy động cơ thúc đẩy hoạt động sáng tạo là năng lực văn hóa của con người, từ đó càng thấy PTVH có vai trò quan trọng trong việc nâng cao CLNNL. Có thể thấy tác động của PTVH đến CLNNL được biểu hiện trên các phương diện sau:

Một là, PTVH văn hóa luôn đi đôi, gắn chặt với con người, PTVH và con người là nhiệm vụ không thể tách rời; PTVH với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Toàn bộ các giá trị sáng tạo thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan, phương thức sống và hoạt động, tính nhân văn của con người, hợp thành nền tảng tinh thần để bảo đảm cho một xã hội phát triển hài hòa, cân đối, bền vững.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển văn hóa, đặt con người vào trung tâm của sự phát triển
PTVH góp phần nâng cao CLNNL. Ảnh: Nhật Nam

Hai là, PTVH tạo điều kiện hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật; đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước.

Ba là, PTVH tạo điều kiện để văn hóa thẫm đẫm trong toàn xã hội, trong từng cơ quan, tổ chức, hình thành môi trường văn hóa lành mạnh, phù hợp với công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH, từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền và các giai tầng xã hội; ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội.

Bốn là, PTVH tạo điều kiện chủ động giao lưu văn hóa quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những giá trị tinh thần của nền văn minh nhân loại; đồng thời, phòng ngừa những xu hướng lai căng, xa rời giá trị truyền thống, bảo đảm xây dựng và phát triển con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.

Năm là, PTVH tạo điều kiện củng cố và nâng cao tinh thần đại đoàn kết, nhận thức của toàn dân về ý thức tự tôn dân tộc, tinh thần yêu nước, ý chí phục hưng dân tộc, truyền thống văn hóa, tính tích cực xã hội, hình thành nếp sống văn minh, tác phong công nghiệp, tính chuyên nghiệp, thiết thực, hiệu quả, đề cao, tôn trọng con người, quan tâm nâng cao trí tuệ, cải thiện chất lượng sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển văn hóa, đặt con người vào trung tâm của sự phát triển
PTVH để hình thành môi trường văn hóa lành mạnh, phù hợp với công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH, từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn. Nguồn: bing.com

Sáu là, PTVH tạo điều kiện cho sự phát triển trình độ hệ thống giáo dục kể cả bề rộng và chiều sâu. Sự phát triển bao trùm của hệ thống giáo dục sẽ bảo đảm điều kiện để mỗi người dân thụ hưởng một cách công bằng thành quả của nền giáo dục; tạo ra năng lực thu hút nhiều người học, xây dựng xã hội học tập mở, học tập suốt đời, thúc đẩy NNLCLC tăng nhanh về số lượng và chất lượng. Sự phát triển chiều sâu của hệ thống giáo dục tác động mạnh đến yếu tố CLNNL. Trình độ phát triển của hệ thống giáo dục càng cao thì CLNNL được đào tạo cũng càng cao.

Bảy là, PTVH tạo điều kiện cho quá trình tiếp nhận, sử dụng, phát huy NNLCLC hiệu quả hơn. Thực tế cho thấy, đất nước nào sử dụng được NNLCLC có hiệu quả thì quốc gia đó phát triển tốt và ngược lại. Như vậy, PTVH sẽ phát huy cao độ tố chất sáng tạo của NNLCLC, đó vừa là động cơ, vừa là mục tiêu của quá trình sử dụng NNLCLC.

3. Kết luận

Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, Việt Nam là nước đang phát triển, thu nhập bình quân đầu người còn thấp. Để tránh nguy cơ tụt hậu về kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, thì việc tập trung nâng cao CLNNL đủ khả năng thích ứng và sáng tạo trong điều kiện hiện nay là giải pháp quan trọng. Đầu tư phát triển hiệu quả nguồn nhân lực không chỉ tăng cường nguồn lao động sáng tạo nội sinh của văn hóa dân tộc mà còn để nâng cao năng lực làm chủ công nghệ, sức cạnh tranh và tiếp thu những thành tựu khoa học hiện đại.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển văn hóa
PTVH thu hút nhiều người học, xây dựng xã hội học tập mở, học tập suốt đời, thúc đẩy NNLCLC tăng nhanh về số lượng và chất lượng. Nguồn: baophutho.vn

Những con người Việt Nam phát triển toàn diện, có lý tưởng cao đẹp, phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, giản dị trong lối sống… chính là cơ sở phát triển NNLCLC đủ sức đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của công cuộc đổi mới đất nước. Chúng ta phải PTVH để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, khát vọng phát triển và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của nền văn hóa và con người Việt Nam. Hình thành NNLCLC, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ sẽ tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Tài liệu tham khảo:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG - Sự thật, HN, 2021.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI), Nxb CTQG - Sự thật, HN, 2014.

3. PGS. TS. Vũ Văn Phúc - TS. Nguyễn Duy Hùng: Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, Nxb CTQG - Sự thật, HN, 2012.

Bắc Giang: Ranh giới bệnh nhân Covid-19 ở mức độ vừa phải tới nguy kịch rất nhanh Bắc Giang: Ranh giới bệnh nhân Covid-19 ở mức độ vừa phải tới nguy kịch rất nhanh

“Đợt dịch ở Đà Nẵng, bệnh nhân nặng chủ yếu đều lớn tuổi và có nhiều bệnh nền, nhưng ở Bắc Giang, bệnh nhân nặng ...

1000 tỷ của hai nữ đại gia Phương Hằng- Lê Thị Giàu! 1000 tỷ của hai nữ đại gia Phương Hằng- Lê Thị Giàu!

Bà chủ Đại Nam- CEO Nguyễn Phương Hằng, người nổi tiếng với câu “đồ không có 1000 tỷ” cùng những phát ngôn đình đám khác ...

“Ở nhà         với ngoại ngoan,          mẹ đi rồi sẽ về” “Ở nhà với ngoại ngoan, mẹ đi rồi sẽ về”

Đó là lời dặn dò của Võ Thị Hoài Thương, khoa Gây mê hồi sức, Bệnh viện Đà Nẵng với con khi chị gửi về ...

Chia sẻ

Tin cùng chuyên mục

Xây dựng chương trình quản lý sức khỏe tinh thần của NLĐ theo ISO 45003:2021

Sức khỏe -

Xây dựng chương trình quản lý sức khỏe tinh thần của NLĐ theo ISO 45003:2021

Công tác quản lý an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại nơi làm việc ngày càng được chú trọng và có nhiều công cụ hỗ trợ để đảm bảo môi trường làm việc tốt nhất, tập trung vào việc đánh giá rủi ro, gánh nặng lao động, cải thiện điều kiện lao động và trách nhiệm xã hội…

Thực hiện pháp luật về An toàn, vệ sinh lao động tại doanh nghiệp

Công đoàn Việt Nam -

Thực hiện pháp luật về An toàn, vệ sinh lao động tại doanh nghiệp

Việc đưa sản xuất trở lại hiện nay là điều rất cần thiết. Tuy nhiên, việc sản xuất chỉ được tiến hành khi đảm bảo đủ các điều kiện an toàn. Hơn bao giờ hết, người lao động (NLĐ) cần phải ý thức được việc tuân thủ các quy định về ATVSLĐ gắn với công tác phòng, chống dịch. Đây là điều có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với bản thân NLĐ và đối với toàn xã hội.

Chăm sóc sức khỏe tâm thần cho nhân viên Y tế trong phòng, chống dịch Covid-19

Sức khỏe -

Chăm sóc sức khỏe tâm thần cho nhân viên Y tế trong phòng, chống dịch Covid-19

Đại dịch Covid-19 gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của nhân viên y tế (NVYT), nhất là sức khỏe tâm thần (SKTT) các NVYT nơi tuyến đầu. Ở ta chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này, trong khi thế giới đã có những khảo sát ban đầu. Việc tìm hiểu kết quả những nghiên cứu này nhằm áp dụng chăm sóc SKTT cho NVYT trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết.

Tác động của dịch Covid-19 và giải pháp sau khi hết giãn cách xã hội

An toàn lao động -

Tác động của dịch Covid-19 và giải pháp sau khi hết giãn cách xã hội

Mặc dù Đảng, Nhà nước, các cơ quan ban, ngành, đoàn thể đã có nhiều chính sách hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng dịch Covid-19 nói chung và doanh nghiệp, công nhân lao động (CNLĐ) nói riêng, song với tình hình dịch Covid-19 hiện nay, nếu chúng ta không có các giải pháp đồng bộ ngay từ đầu, thì giải quyết việc làm, thu nhập của CNLĐ sau khi hết giãn cách xã hội là bài toán không dễ tìm lời giải.

Xây dựng và ứng dụng bài giảng E-learning để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn

Nghiên cứu - Trao đổi -

Xây dựng và ứng dụng bài giảng E-learning để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn

Để thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị về Đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới, Ban Chấp hành Tổng LĐLĐ Việt Nam đã ban hành Chương trình hành động số 01/CT-TLĐ ngày 20/7/2021.

Chăm lo phúc lợi xã hội về nhà ở cho công nhân, người lao động

Nghiên cứu - Trao đổi -

Chăm lo phúc lợi xã hội về nhà ở cho công nhân, người lao động

Ngày 12/6/2021, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 02-NQ/TW về “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới”, trong đó, một trong những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu được xác định là: “Nhà nước, chính quyền các cấp có cơ chế huy động, bố trí nguồn lực tài chính thỏa đáng để nâng cao phúc lợi xã hội, chăm lo, giải quyết những vấn đề khó khăn, bức xúc của NLĐ, nhất là nhà ở, trường học, bệnh viện, nơi vui chơi, giải trí, xử lý các tình huống đột xuất ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập”; đây là sự cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, trong đó có vấn đề nhà ở cho CNLĐ mà Chính phủ cũng đã bước đầu thể chế hóa.

Đọc thêm

Bảo đảm an toàn cho các nhân viên y tế trên tuyến đầu chống dịch

Nghiên cứu - Trao đổi -

Bảo đảm an toàn cho các nhân viên y tế trên tuyến đầu chống dịch

Sự bùng phát nhanh chóng của đại dịch Covid-19 đã biến các nhân viên y tế (NVYT) trở thành lực lượng tuyến đầu trong cuộc chiến ngăn chặn đại dịch. Do tính chất nghề nghiệp, hàng triệu NVYT đã và đang phải mạo hiểm sức khỏe cũng như sự an toàn của bản thân vì sức khỏe của cộng đồng. Nhận diện những rủi ro và đưa ra các giải pháp nhằm đảm bảo an toàn lao động (ATLĐ) và sức khỏe nghề nghiệp (SKNN) cho NVYT rất cần được ưu tiên trong giai đoạn hiện nay.

Covid-19 là một bệnh nghề nghiệp - Quan điểm và đề xuất

Nghiên cứu - Trao đổi -

Covid-19 là một bệnh nghề nghiệp - Quan điểm và đề xuất

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã phân loại bệnh nghề nghiệp thành 29 nhóm với hàng trăm bệnh khác nhau. Còn ở Việt Nam, danh mục các loại bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế chủ trì phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành sau khi lấy ý kiến của Tổng LĐLĐ Việt Nam và tổ chức đại diện người sử dụng lao động. Hiện ở Việt Nam mới có 34 bệnh nghề nghiệp được đưa vào danh mục bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm.

Sự giúp đỡ kịp thời cho doanh nghiệp và người lao động

Nghiên cứu - Trao đổi -

Sự giúp đỡ kịp thời cho doanh nghiệp và người lao động

Ngày 24/8/2021, Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã ban hành Quyết định số 3089/QĐ-TLĐ về hỗ trợ bữa ăn cho đoàn viên, người lao động thực hiện “3 tại chỗ” trên địa bàn các tỉnh, thành phố thực hiện giãn cách theo Chỉ thị 16/CT-TTg. Mức hỗ trợ là 1 triệu đồng/người và thời điểm thực hiện tính từ ngày 24/8/2021, thời điểm Quyết định có hiệu lực.

Lao động nữ làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất và vai trò của công đoàn

Nghiên cứu - Trao đổi -

Lao động nữ làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất và vai trò của công đoàn

Lao động nữ (LĐN) là nhóm lao động đặc thù, ngoài việc chịu điều chỉnh của pháp luật lao động như những NLĐ khác, quyền lợi của LĐN còn được điều chỉnh bởi các quy định riêng. LĐN làm việc tại các KCN, KCX có những đặc điểm riêng về điều kiện làm việc, nhu cầu chăm sóc sức khoẻ, ATVSLĐ, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi…

Hoạt động công đoàn khi Việt Nam tham gia Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới*

Nghiên cứu - Trao đổi -

Hoạt động công đoàn khi Việt Nam tham gia Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới*

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt là một số FTA thế hệ mới, trong đó có các điều khoản về tôn trọng và thúc đẩy các tiêu chuẩn lao động (TCLĐ) cơ bản của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Những cam kết tại các văn bản pháp lý quốc tế này đặt ra nhu cầu cấp thiết về hoàn thiện pháp luật quốc gia tiệm cận xu hướng tiến bộ của thế giới để điều chỉnh hài hòa các quan hệ lao động.

Xem phiên bản di động