Thứ ba 15/06/2021 03:44

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển văn hóa

Nghiên cứu - Trao đổi - Trần Quốc Dân

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam; đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (CLNNL), phát triển con người. Mục tiêu xây dựng và phát triển văn hóa (PTVH) cũng là mục tiêu xây dựng và phát triển con người mới Việt Nam, đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là chủ thể của sự phát triển.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển văn hóa
Đầu tư phát triển hiệu quả nguồn nhân lực không chỉ tăng cường nguồn lao động sáng tạo nội sinh của văn hóa dân tộc mà còn để nâng cao năng lực làm chủ công nghệ và tiếp thu những thành tựu khoa học hiện đại. Nguồn: tapchitaichinh.vn

1. Sự cần thiết phải nâng cao CLNNL và PTVH

CLNNL là khả năng tổng hợp về thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách, đặc điểm lối sống, tinh thần và đặc biệt là khả năng nghiên cứu, sáng tạo, đổi mới, tiếp thu và ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ mới trong quá trình lao động, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Yếu tố con người luôn đóng vai trò trung tâm của mọi quá trình phát triển. PTVH để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, khát vọng phát triển và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của nền văn hóa và con người Việt Nam, hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao (NNLCLC), thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, đất nước ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới. Yêu cầu nâng cao CLNNL có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và phát triển bền vững. Trong công cuộc cải biến xã hội vô cùng sâu sắc này, nguồn NNLCLC là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Việc ứng dụng những thành tựu của khoa học, kỹ thuật và công nghệ để phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi phải có NNLCLC đáp ứng.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển văn hóa, đặt con người vào trung tâm của sự phát triển
NNLCLC có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Nguồn: vietnamplus.vn

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, đất nước ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới. Yêu cầu nâng cao CLNNL có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và phát triển bền vững. Trong công cuộc cải biến xã hội vô cùng sâu sắc này, nguồn NNLCLC là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Việc ứng dụng những thành tựu của khoa học, kỹ thuật và công nghệ để phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi phải có NNLCLC đáp ứng. NNLCLC sẽ bảo đảm rút ngắn thời gian thực hiện CNH, HĐH đất nước. Nước ta tiến hành CNH, HĐH trong bối cảnh của một nước nông nghiệp, nếu không có NNLCLC thì không thể thực hiện những bước nhảy vọt, đi tắt đón đầu. NNLCLC cũng là điều kiện cho việc phát triển nền kinh tế tri thức. Chỉ có NNLCLC mới bảo đảm cho những mục tiêu phát triển, trong đó có mục tiêu phát triển nền kinh tế tri thức.

NNLCLC cũng bảo đảm cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Nền kinh tế phát triển bền vững hay không phụ thuộc nhiều vào năng lực cạnh tranh quốc gia cao hay thấp. Vì vậy, NNLCLC là một trong những nhân tố quan trọng nhất xác định năng lực cạnh tranh quốc gia, bởi nó có vai trò quyết định trong việc khai thác, sử dụng, bảo vệ, tái tạo các nguồn lực khác.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển văn hóa, đặt con người vào trung tâm của sự phát triển
Nâng cao CLNNL có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và phát triển bền vững. Ảnh: Thiên Lý

2. PTVH góp phần nâng cao CLNNL

Văn hóa do con người sáng tạo ra. Trong đời sống xã hội, văn hóa vừa phản ánh hiện thực của con người, vừa thúc đẩy sự phát triển, sự hoàn thiện nhân cách, làm phong phú và sâu sắc thêm các giá trị nhân bản, nhân đạo và nhân văn của đời sống xã hội. Văn hóa thúc đẩy sự phát triển đồng thời là kết quả của phát triển, là thước đo sự phát triển con người và xã hội.

Nói tới văn hóa là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực bản chất của con người, nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội. Dưới góc độ văn hóa, đi sâu nghiên cứu vào CLNNL với tư cách là động lực sáng tạo con người, có thể thấy động cơ thúc đẩy hoạt động sáng tạo là năng lực văn hóa của con người, từ đó càng thấy PTVH có vai trò quan trọng trong việc nâng cao CLNNL. Có thể thấy tác động của PTVH đến CLNNL được biểu hiện trên các phương diện sau:

Một là, PTVH văn hóa luôn đi đôi, gắn chặt với con người, PTVH và con người là nhiệm vụ không thể tách rời; PTVH với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Toàn bộ các giá trị sáng tạo thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan, phương thức sống và hoạt động, tính nhân văn của con người, hợp thành nền tảng tinh thần để bảo đảm cho một xã hội phát triển hài hòa, cân đối, bền vững.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển văn hóa, đặt con người vào trung tâm của sự phát triển
PTVH góp phần nâng cao CLNNL. Ảnh: Nhật Nam

Hai là, PTVH tạo điều kiện hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật; đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước.

Ba là, PTVH tạo điều kiện để văn hóa thẫm đẫm trong toàn xã hội, trong từng cơ quan, tổ chức, hình thành môi trường văn hóa lành mạnh, phù hợp với công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH, từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền và các giai tầng xã hội; ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội.

Bốn là, PTVH tạo điều kiện chủ động giao lưu văn hóa quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những giá trị tinh thần của nền văn minh nhân loại; đồng thời, phòng ngừa những xu hướng lai căng, xa rời giá trị truyền thống, bảo đảm xây dựng và phát triển con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.

Năm là, PTVH tạo điều kiện củng cố và nâng cao tinh thần đại đoàn kết, nhận thức của toàn dân về ý thức tự tôn dân tộc, tinh thần yêu nước, ý chí phục hưng dân tộc, truyền thống văn hóa, tính tích cực xã hội, hình thành nếp sống văn minh, tác phong công nghiệp, tính chuyên nghiệp, thiết thực, hiệu quả, đề cao, tôn trọng con người, quan tâm nâng cao trí tuệ, cải thiện chất lượng sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển văn hóa, đặt con người vào trung tâm của sự phát triển
PTVH để hình thành môi trường văn hóa lành mạnh, phù hợp với công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH, từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn. Nguồn: bing.com

Sáu là, PTVH tạo điều kiện cho sự phát triển trình độ hệ thống giáo dục kể cả bề rộng và chiều sâu. Sự phát triển bao trùm của hệ thống giáo dục sẽ bảo đảm điều kiện để mỗi người dân thụ hưởng một cách công bằng thành quả của nền giáo dục; tạo ra năng lực thu hút nhiều người học, xây dựng xã hội học tập mở, học tập suốt đời, thúc đẩy NNLCLC tăng nhanh về số lượng và chất lượng. Sự phát triển chiều sâu của hệ thống giáo dục tác động mạnh đến yếu tố CLNNL. Trình độ phát triển của hệ thống giáo dục càng cao thì CLNNL được đào tạo cũng càng cao.

Bảy là, PTVH tạo điều kiện cho quá trình tiếp nhận, sử dụng, phát huy NNLCLC hiệu quả hơn. Thực tế cho thấy, đất nước nào sử dụng được NNLCLC có hiệu quả thì quốc gia đó phát triển tốt và ngược lại. Như vậy, PTVH sẽ phát huy cao độ tố chất sáng tạo của NNLCLC, đó vừa là động cơ, vừa là mục tiêu của quá trình sử dụng NNLCLC.

3. Kết luận

Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, Việt Nam là nước đang phát triển, thu nhập bình quân đầu người còn thấp. Để tránh nguy cơ tụt hậu về kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, thì việc tập trung nâng cao CLNNL đủ khả năng thích ứng và sáng tạo trong điều kiện hiện nay là giải pháp quan trọng. Đầu tư phát triển hiệu quả nguồn nhân lực không chỉ tăng cường nguồn lao động sáng tạo nội sinh của văn hóa dân tộc mà còn để nâng cao năng lực làm chủ công nghệ, sức cạnh tranh và tiếp thu những thành tựu khoa học hiện đại.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển văn hóa
PTVH thu hút nhiều người học, xây dựng xã hội học tập mở, học tập suốt đời, thúc đẩy NNLCLC tăng nhanh về số lượng và chất lượng. Nguồn: baophutho.vn

Những con người Việt Nam phát triển toàn diện, có lý tưởng cao đẹp, phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, giản dị trong lối sống… chính là cơ sở phát triển NNLCLC đủ sức đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của công cuộc đổi mới đất nước. Chúng ta phải PTVH để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, khát vọng phát triển và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của nền văn hóa và con người Việt Nam. Hình thành NNLCLC, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ sẽ tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Tài liệu tham khảo:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG - Sự thật, HN, 2021.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI), Nxb CTQG - Sự thật, HN, 2014.

3. PGS. TS. Vũ Văn Phúc - TS. Nguyễn Duy Hùng: Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, Nxb CTQG - Sự thật, HN, 2012.

Bắc Giang: Ranh giới bệnh nhân Covid-19 ở mức độ vừa phải tới nguy kịch rất nhanh Bắc Giang: Ranh giới bệnh nhân Covid-19 ở mức độ vừa phải tới nguy kịch rất nhanh

“Đợt dịch ở Đà Nẵng, bệnh nhân nặng chủ yếu đều lớn tuổi và có nhiều bệnh nền, nhưng ở Bắc Giang, bệnh nhân nặng ...

1000 tỷ của hai nữ đại gia Phương Hằng- Lê Thị Giàu! 1000 tỷ của hai nữ đại gia Phương Hằng- Lê Thị Giàu!

Bà chủ Đại Nam- CEO Nguyễn Phương Hằng, người nổi tiếng với câu “đồ không có 1000 tỷ” cùng những phát ngôn đình đám khác ...

“Ở nhà         với ngoại ngoan,          mẹ đi rồi sẽ về” “Ở nhà với ngoại ngoan, mẹ đi rồi sẽ về”

Đó là lời dặn dò của Võ Thị Hoài Thương, khoa Gây mê hồi sức, Bệnh viện Đà Nẵng với con khi chị gửi về ...

Chia sẻ

Tin cùng chuyên mục

Phát huy kỹ năng cán bộ công đoàn trong tổ chức đối thoại tại nơi làm việc

Nghiên cứu - Trao đổi -

Phát huy kỹ năng cán bộ công đoàn trong tổ chức đối thoại tại nơi làm việc

Đối thoại tại nơi làm việc (ĐTTNLV) là việc chia sẻ thông tin, tham khảo, thảo luận, trao đổi ý kiến giữa người sử dụng lao động (NSDLĐ) với người lao động (NLĐ) hoặc tổ chức đại diện NLĐ về những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích và mối quan tâm của các bên tại nơi làm việc nhằm tăng cường sự hiểu biết, hợp tác, cùng nỗ lực hướng tới giải pháp các bên cùng có lợi (Khoản 1 Điều 63 Bộ luật Lao động năm 2019). Do đó, việc phát huy kỹ năng cán bộ công đoàn (CBCĐ) trong tổ chức ĐTTNLV là rất cần thiết.

Nâng cao năng lực cán bộ công đoàn Việt Nam trong tình hình mới

Nghiên cứu - Trao đổi -

Nâng cao năng lực cán bộ công đoàn Việt Nam trong tình hình mới

Năng lực cán bộ công đoàn (CBCĐ) là toàn bộ khả năng, kỹ năng, đặc tính tâm lý vốn có đảm bảo đáp ứng được yêu cầu công tác vận động, tổ chức, giáo dục quần chúng, CNVCLĐ. Hay nói cách khác, năng lực CBCĐ là tổng hợp các yếu tố tạo thành khả năng hoàn thành nhiệm vụ mà người CBCĐ được giao. Trước yêu cầu của tình hình mới hiện nay, việc nâng cao năng lực CBCĐ là vấn đề được đặt ra cấp bách.

Công tác xây dựng tổ chức Đảng và phát triển đảng viên ở DN ngoài khu vực Nhà nước

Nghiên cứu - Trao đổi -

Công tác xây dựng tổ chức Đảng và phát triển đảng viên ở DN ngoài khu vực Nhà nước

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII (2021) khẳng định kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, nhất là trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, dịch vụ, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao. Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân hợp tác, liên kết với doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, kinh tế hộ; phát triển các công ty cổ phần có sự tham gia rộng rãi của các chủ thể xã hội, nhất là NLĐ. Cùng với phát triển kinh tế tư nhân, công tác phát triển Đảng ở khu vực này được Đảng ta đặt ra từ rất sớm.

Đọc thêm

Kinh nghiệm quốc tế về mô hình bảo hiểm tai nạn lao động theo hình thức tự nguyện

Nghiên cứu - Trao đổi -

Kinh nghiệm quốc tế về mô hình bảo hiểm tai nạn lao động theo hình thức tự nguyện

Các tài liệu thu thập hiện nay chưa cho thấy nước nào trên thế giới thực hiện quy định trong luật pháp về bảo hiểm tai nạn lao động (TNLĐ) theo hình thức tự nguyện cho mọi NLĐ làm việc không có hợp đồng lao động. Tuy nhiên, mỗi nước đều có giải pháp thực hiện mô hình bảo hiểm TNLĐ theo hình thức tự nguyện nhằm bảo vệ NLĐ ở khu vực này. Tìm hiểu vấn đề trên có thể mang lại cho chúng ta những kinh nghiệm nhất định.

Nhu cầu chăm sóc y tế của công nhân khu công nghiệp - thực trạng và gợi ý chính sách

Nghiên cứu - Trao đổi -

Nhu cầu chăm sóc y tế của công nhân khu công nghiệp - thực trạng và gợi ý chính sách

Dịch vụ y tế là một trong những dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm các hình thức khám chữa bệnh, điều dưỡng phục hồi chức năng về thể chất cũng như tinh thần cho người dân nói chung và công nhân nói riêng. Công nhân tại nhiều KCN hiện nay vẫn đang phải làm việc trong điều kiện chưa đảm bảo tiêu chuẩn về ATVSLĐ. Công tác chăm sóc sức khoẻ và y tế cho công nhân ở khu vực này có vai trò quan trọng trong việc phòng tránh, hạn chế tai nạn lao động (TNLĐ) và bệnh nghề nghiệp (BNN) xảy ra.

Chứng khoán hóa với xã hội hóa đầu tư

Nghiên cứu - Trao đổi -

Chứng khoán hóa với xã hội hóa đầu tư

Khái niệm chứng khoán hóa chính thức xuất hiện vào đầu những năm 70 của thế kỷ trước, một trong những nguyên nhân cơ bản do các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó tiếp cận nguồn vốn vay từ các Ngân hàng, cùng với nhu cầu hàng hóa của thị trường tài chính tại Mỹ khi đó không đủ đáp ứng “khẩu vị” nhà đầu tư.

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài chính - ngân hàng

Nghiên cứu - Trao đổi -

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài chính - ngân hàng

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất chắc chắn sẽ tác động mạnh tới lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng (TCNH) nói chung, trong đó có vấn đề nguồn nhân lực chất lượng cao (NNLCLC) ngành TCNH nói riêng. Do vậy, việc xác định rõ một số quan điểm về phát triển NNLCLC ngành TCNH trong CMCN 4.0 là điều mang tính cấp thiết.

Chất lượng cuộc sống của công nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Nghiên cứu - Trao đổi -

Chất lượng cuộc sống của công nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Bằng cách tiếp cận chất lượng cuộc sống và quan điểm cần chăm lo toàn diện cho đội ngũ công nhân như một giải pháp căn cơ đảm bảo sự ổn định kinh tế-xã hội; bài viết dưới đây rút trích một số kết quả nghiên cứu rút ra từ Đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi ứng xử của công nhân trước những biến động kinh tế, xã hội ở TP. Hồ Chí Minh” của tác giả, do Viện Nghiên cứu Phát triển thành phố tiến hành vào năm 2019, nhằm phản ánh thực trạng và đề xuất các giải pháp định hướng góp phần giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho lực lượng công nhân TP. Hồ Chí Minh trong hiện nay cũng như giai đoạn sắp tới.

Những thách thức đối với lao động Việt Nam trước làn sóng công nghệ số

Công đoàn Việt Nam -

Những thách thức đối với lao động Việt Nam trước làn sóng công nghệ số

Thời gian qua, lực lượng lao động Việt Nam tuy không ngừng phát triển về chuyên môn kỹ thuật nhưng đa số lao động Việt Nam đều làm việc trong những ngành nghề có hàm lượng kỹ thuật thấp. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ giúp tăng năng suất lao động nhờ áp dụng những công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất, song cũng đặt ra nhiều thách thức như mất việc làm và những vấn đề xã hội khác.

Tác động của phân hóa giàu nghèo đến ý thức chính trị của giai cấp công nhân nước ta

Công đoàn Việt Nam -

Tác động của phân hóa giàu nghèo đến ý thức chính trị của giai cấp công nhân nước ta

Trong những năm qua, tình trạng phân hóa giàu nghèo đã và đang trở thành một hiện tượng phổ biến ở nước ta; là một trong những nguyên nhân làm sai lệch nhận thức chính trị của một bộ phận công nhân. Vậy, làm thế nào để hạn chế những tác động, ảnh hưởng tiêu cực đó đến công nhân để tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân (GCCN) ngày càng vững mạnh?

Xem phiên bản di động