Thứ tư 08/12/2021 10:10
banner-trai-xinh-gai-dep

Nhu cầu và giải pháp phát triển công đoàn tại cơ sở y tế ngoài công lập

Nghiên cứu - Trao đổi - Phạm Thanh Bình - Hoàng Thị Mỹ Hạnh - Nguyễn Đức Hữu - Nguyễn Thanh Tùng - Trần Thị Thu Hiền

Tính đến cuối năm 2018, cả nước ta có hơn 240 bệnh viện tư, hơn 35.000 phòng khám đa khoa, chuyên khoa tư nhân; 66.910 cơ sở bán lẻ, 4.828 cơ sở bán buôn và 380 cơ sở sản xuất, xuất nhập khẩu dược phẩm. Ước tính, khoảng 250 ngàn cán bộ y tế thuộc lĩnh vực ngoài công lập, bằng khoảng 50% cán bộ y tế (CBYT) ở lĩnh vực công. Nhận thức của các đối tượng CBYT ngoài công lập về tổ chức Công đoàn và tổ chức đại diện chưa cao nên tỷ lệ cán bộ y tế (CBYT) ngoài công lập tham gia tổ chức Công đoàn thấp. Do đó, đổi mới phương thức tập hợp NLĐ tham gia tổ chức Công đoàn giai đoạn thực hiện CPTPP, EVFTA là hết sức cần thiết.
Nhu cầu và giải pháp phát triển công đoàn tại cơ sở y tế ngoài công lập

Nhận thức của CBYT ngoài công lập về tổ chức Công đoàn chưa cao nên tỷ lệ CBYT ngoài công lập tham gia tổ chức Công đoàn thấp. Do đó, đổi mới phương thức tập hợp NLĐ tham gia tổ chức Công đoàn giai đoạn thực hiện CPTPP, EVFTA là hết sức cần thiết. Nguồn: ictsunflower.com

Đối tượng, phương pháp và kết quả nghiên cứu

Xuất phát từ thực tế trên, nhóm nghiên cứu tiến hành nghiên cứu đề tài tại 3 TP: Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng với 543 NLĐ ở CSYT ngoài công lập (đã thành lập công đoàn và chưa thành lập) từ tháng 6-9/2020. 543 NLĐ làm tại 24 CSYT tư nhân, gồm 178 người làm việc tại bệnh viện; 290 người làm việc tại các phòng khám đa khoa và chuyên khoa; 60 người làm ở các doanh nghiệp và 15 người làm ở các loại hình CSYT tư nhân khác

Với phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang; kết hợp điều tra định tính (phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm) và định lượng (thống kê và xử lý số liệu điều tra); NLĐ mỗi nhóm cần khảo sát được tính theo công thức tính cỡ mẫu theo tỷ lệ:

Nhu cầu và giải pháp phát triển công đoàn tại cơ sở y tế ngoài công lập

Trong đó: n là số NLĐ được khảo sát; z là hệ số tin cậy. Với độ tin cậy 95% thì giá trị của z = 1,96; p: tỷ lệ NLĐ hài lòng với hoạt động của CĐCS có nhu cầu tham gia công đoàn/tổ chức đại diện cho NLĐ ở cơ sở; q = 1 - p = 0,5; d: sai số chấp nhận, chọn d = 0,08; DE = 1.5; tỷ lệ từ chối/phiếu không hoàn thành: 5%. Áp dụng công thức trên, cỡ mẫu nhóm đã thành lập công đoàn là 240 người, mỗi tỉnh 80 người chọn có chủ đích cho từng loại hình CSYT ngoài công lập; đối tượng chưa thành lập CĐCS làm tròn là 315 NLĐ, mỗi tỉnh chọn 105 ngẫu nhiên ở 15 đơn vị (phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn).

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tính đến cuối năm 2019, tại 22 tỉnh thành phố đã có trên 31.050 CSYT ngoài công lập, trong đó có 82 bệnh viện; 12.084 phòng khám và 18.884 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực y tế. So với cuối năm 2018, số lượng CSYT ngoài công lập tại các tirnh được thống kê đã tăng lên 14,5%. Tuy nhiên, theo thống kê của 39 LĐLĐ tỉnh thành phố, tỷ lệ CSYT ngoài công lập thành lập công đoàn chiếm chỉ 1,3% (670/51.290).

Phân tích 543 NLĐ được điều tra tại 3 tỉnh với đối tượng tại CSYT ngoài công lập đã thành lập công đoàn và chưa thành lập công đoàn thì quyền lợi của người tham gia công đoàn cao hơn đối tượng chưa tham gia về BHXH, BHYT và bảo hiểm tai nạn (xem biểu đồ 1). Cao nhất là tỷ lệ tham gia BHYT 92,9%, cao hơn 74,7% ở các đơn vị chưa tham gia tổ chức Công đoàn.

Nhu cầu và giải pháp phát triển công đoàn tại cơ sở y tế ngoài công lập
Biểu đồ 1: Tình hình tham gia các loại bảo hiểm của NLĐ, phân theo tình trạng thành lập CĐCS

Người tham gia tổ chức Công đoàn ở CSYT ngoài công lập được trang bị bảo hộ lao động (BHLĐ) đầy đủ hơn 65,8% so với 46,7% ở các CSYT chưa tham gia công đoàn (xem biểu đồ 2).

Nhu cầu và giải pháp phát triển công đoàn tại cơ sở y tế ngoài công lập
Biểu đồ 2: So sánh mức độ trang bị BHLĐ trong các CSYT ngoài công lập

NLĐ tham gia công đoàn, ngoài lương, tiền chuyên cần, tiền phụ cấp, tiền độc hại cao hơn ở các CSYT chưa có tổ chức Công đoàn (xem biểu đồ 3). Cao nhất là tiền độc hại 41,6% so với 5,49%.

Nhu cầu và giải pháp phát triển công đoàn tại cơ sở y tế ngoài công lập

Biểu đồ 3: So sánh các khoản thu nhập ngoài lương của NLĐ, phân theo đơn vị có công đoàn và đơn vị chưa có công đoàn

Kết quả khảo sát ở đơn vị chưa thành lập công đoàn cho thấy, có 64,5% cho biết họ không mong muốn thành lập tổ chức đại diện NLĐ trong đơn vị mình (xem biểu đồ 4).

Nhu cầu và giải pháp phát triển công đoàn tại cơ sở y tế ngoài công lập
Biểu đồ 4: Mong muốn thành lập tổ chức đại diện NLĐ trong các CSYT ngoài công lập

Tỷ lệ trung bình 72,5% muốn thành lập tổ chức Công đoàn theo hình thức kết hợp phương pháp truyền thống và phương pháp mới (xem bảng 1).

Kết quả khảo sát cho thấy, mặc dù đơn vị chưa có tổ chức CĐCS, nhưng đã có 87,2% NLĐ tham gia khảo sát đã từng nghe nói đến tổ chức Công đoàn, nhưng nhận thức về tổ chức Công đoàn thì chỉ 12,8%.

Một đặc trưng cơ bản của các Hiệp định tự do thương mại thế hệ mới là đưa những tiêu chuẩn rất mới gắn với quyền con người với các vấn đề xã hội và vấn đề quản trị quốc gia vào hiệp định. Việt Nam đã cam kết thể hiện cụ thể hóa tại Điều 170, Bộ luật Lao động năm 2019 về quyền thành lập, gia nhập và tham gia hoạt động của tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở, cho phép NLĐ tại một doanh nghiệp được thành lập “tổ chức đại diện của NLĐ” mà không cần phải có sự ủy quyền trước từ bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào.

CSYT ngoài công lập gia tăng 14,5%/ năm, số lượng CĐCS trong các CSYT ngoài công lập đã tăng lên 11,3%, tỷ lệ CSYT ngoài công lập tham gia công đoàn rất thấp (1,9%). Khảo sát cho thấy, 65% NLĐ không muốn tham gia tổ chức NLĐ mới, đây là một thuận lợi cho tổ chức Công đoàn Việt Nam. 72,5% NLĐ mong muốn vào tổ chức Công đoàn bằng cả hai phương thức kết hợp cũ và mới. Lý do họ muốn tham gia tổ chức Công đoàn Việt Nam là có lợi hơn so với không tham gia tổ chức Công đoàn tại các biểu đồ 1,2,3 về các chế độ BHXH, BHYT, bảo hiểm tai nạn và đặc biệt là trang thiết bị bảo hộ và chế độ độc hại.

Bảng 1: Các hình thức vận động thành lập CĐCS theo mô hình hoạt động của các CSYT ngoài công lập

Cách thức vận động

Phòng khám

Bệnh viện

Doanh nghiệp

Tỷ lệ chung

Công đoàn cấp trên tiếp cận NSDLĐ và đề nghị thành lập CĐCS.

12.9%

50.0%

31.6%

18.0%

Công đoàn cấp trên tiếp cận và vận động NLĐ tự nguyện thành lập CĐCS.

9.8%

10.0%

0.0%

9.5%

Kết hợp cả 2 hình thức trên

77.3%

40.0%

68.4%

72.5%

Như vậy, tập hợp lực lượng lao động tại các CSYT ngoài công lập là một mục tiêu cấp bách. Giải pháp để tập hợp được lực lương này chính là đồng bộ về văn bản, hướng dẫn của Tổng Liên đoàn về việc tập hợp theo phương pháp kết hợp cũ và mới. Tại 670 CĐCS năm 2019 có 51.290 người (trung bình 77 đoàn viên 1 CĐCS); trên thực tế NLĐ trong các CSYT ngoài công lập mong muốn thành lập các công đoàn ghép theo các lĩnh vực chuyên khoa của ngành. Hiện nay mô hình công đoàn ghép này cũng chưa có hướng dẫn của Tổng Liên đoàn, cần được thí điểm mô hình để nhẩn rộng.

Về công tác tuyên truyền, 87,2% NLĐ tham gia khảo sát đã từng nghe nói đến tổ chức Công đoàn, nhưng nhận thức về tổ chức Công đoàn thì chỉ 12,8%. Do đó, tuyên truyền cho đối tượng lao động cần được quan tâm đầu tiên để họ hiểu biết đầy đủ về hệ thống công đoàn, từ đó họ mới có mong muốn tham gia, thành lập ban vận động. Không chỉ có NLĐ, NSDLĐ cũng cần hiểu biết đầy đủ về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của họ.

Cần có sự chỉ đạo thống nhất của cấp ủy Đảng các địa phương doanh nghiệp, kết hợp với cơ quan quản lý nhà nước về y tế tại địa phương để nắm bắt chính sách các CSYT được cấp phép hoạt động để có kế hoạch phối hợp tuyên truyền vận động tham gia tổ chức Công đoàn Việt Nam. Ngoài ra, có rất nhiều hội nghề nghiệp tại địa phương, có thể thông qua kênh để tuyên truyền NLĐ ở CSYT ngoài công lập tham gia tổ chức Công đoàn và phối hợp bảo vệ NLĐ.

Nhu cầu và giải pháp phát triển công đoàn tại cơ sở y tế ngoài công lập

Lãnh đạo LĐLĐ tỉnh Kon Tum và Phó Chủ tịch Công đoàn ngành Y tế tỉnh thăm, động viên cán bộ y tế làm nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19 tại Chốt số 6 huyện Tu Mơ Rông . Nguồn: syt.kontum.gov.vn

Kết luận

1. CSYT ngoài công lập gia tăng 14,5%/năm; số lượng CĐCS trong các CSYT ngoài công lập đã tăng 11,3%, nhưng tỷ lệ CSYT ngoài công lập tham gia công đoàn rất thấp (1,9%).

2. Nhận thức về tổ chức Công đoàn chưa đầy đủ, 87,2% NLĐ tham gia khảo sát đã từng nghe nói đến tổ chức Công đoàn, nhưng nhận thức về tổ chức Công đoàn thì chỉ có 12,8%.

3. So sánh giữa NLĐ tại CSYT có công đoàn thì các chế độ BHXH, BHYT, bảo hiểm tai nạn và đặc biệt là trang thiết bị bảo hộ và chế độ độc hại cao hơn.

4. Khảo sát cho thấy, 65% NLĐ không muốn tham gia tổ chức của NLĐ mới, đây là một thuận lợi cho tổ chức Công đoàn Việt Nam. 72,5% NLĐ mong muốn vào tổ chức Công đoàn bằng cả hai phương thức cũ và mới.

Nghiên cứu chỉ ra việc tập hợp NLĐ ở CSYT ngoài công lập là yêu cầu cấp bách và cần phải đổi mới phương thức tập hợp theo hướng công đoàn ghép các lĩnh vực chuyên ngành; kết hợp với hội nghề nghiệp, cơ quan quản lý dưới sự chỉ đạo của cấp ủy để tập hợp NLĐ tham gia tổ chức Công đoàn; cần kết hợp cả hai phương pháp tập hợp truyền thống và phương pháp mới.

Nhu cầu và giải pháp phát triển công đoàn tại cơ sở y tế ngoài công lập
Tuyên truyền cho NLĐ hiểu biết đầy đủ về hệ thống công đoàn, từ đó NLĐ mới có mong muốn tham gia tổ chức Công đoàn. Ảnh: Ngọc Thủy

Khuyến nghị

Tổng LĐLĐ Việt Nam cần có văn bản hướng dẫn đầy đủ, đồng bộ về phương thức tập hợp lồng ghép mới và cũ; hướng dẫn về thành lập CĐCS ghép; tăng cường tuyên truyền đầy đủ cho cho NLĐ, NSDLĐ; đào tạo cho đội ngũ cán bộ công đoàn cấp trên chuyên nghiệp để hướng dẫn ban vận động.

Xây dựng kế hoạch tổng thể và giao chỉ tiêu thành lập công đoàn CSYT ngoài công lập cho LĐLĐ các địa phương, Công đoàn ngành Y tế hàng năm. Chỉ đạo công đoàn các cấp phối hợp với hội nghề nghiệp, cơ quan quản lý hành nghề địa phương tập hợp NLĐ tham gia tổ chức Công đoàn.

Tài liệu tham khảo

  1. Jacques Bourgeois, WilmerHale và Trường cao đẳng Châu Âu (2013): Một phân tích so sánh về các quy định được lựa chọn trong các hiệp định thương mại tự do - phần “Quy định FTA về tiêu chuẩn lao động”.
  2. Tổng LĐLĐ Việt Nam - FES (Hà Nội, 26/2/2014): Hội thảo quốc tế “Vấn đề lao động và vai trò của công đoàn trong hiệp định thương mại tự do (FTA) EU với các nước”.
  3. TS. Phạm Thị Thu Lan (2020), Thực hiện cam kết về lao động trong NAFTA: Thực tiễn Mexico và bài học cho Việt Nam, Nxb Lao động, HN.
  4. ThS. Nguyễn Ngọc Sơn (2014), Tình hình tổ chức, cán bộ công đoàn chuyên trách công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở, đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực hoạt động đáp ứng yêu cầu mới.
  5. Viện Công nhân và Công đoàn (2015), “Đổi mới mô hình tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động công đoàn hướng về đoàn viên và NLĐ thời gian tới”, Đề tài cấp TLĐ.
  6. Viện Công nhân và Công đoàn (2015), “Dự báo tác động tới việc làm, QHLĐ và hoạt động công đoàn khi Việt Nam gia nhập các hiệp định thương mại tự do” Đề tài cấp TLĐ.

Chú thích

  1. PGS. TS. Phạm Thanh Bình, Chủ tịch Công đoàn Y tế Việt Nam;
  2. TS. Hoàng Thị Mỹ Hạnh, Nghiên cứu viên Viện Chiến lược và Chính sách Y tế;
  3. TS. Nguyễn Đức Hữu, Giảng viên Trường Đại học Công đoàn;
  4. ThS. Nguyễn Thanh Tùng, Phó Trưởng phòng Nghiên cứu khoa học, Viện Công nhân và Công đoàn
  5. CN. Trần Thị Thu Hiền, Ban Tổ chức Công đoàn Y tế Việt Nam.
Vaccine có thực sự là lá chắn Covid-19? Vaccine có thực sự là lá chắn Covid-19?

53 nhân viên BV Bệnh Nhiệt đới TP. Hồ Chí Minh dương tính với SARS-CoV-2 sau khi tiêm vaccine. Vậy vaccine có thực sự là ...

Nữ cán bộ công đoàn là điểm tựa vững chắc của NLĐ, là hậu phương yên bình của gia đình Nữ cán bộ công đoàn là điểm tựa vững chắc của NLĐ, là hậu phương yên bình của gia đình
Đồng chí Nguyễn Thị Mai Chi (sinh năm 1993) là nữ Chủ tịch công đoàn Công ty TNHH ...
Công ty cho người lao động vay tiền trang trải cuộc sống: Câu chuyện ấm áp nghĩa tình Công ty cho người lao động vay tiền trang trải cuộc sống: Câu chuyện ấm áp nghĩa tình

5 năm qua, Tổng Công ty CP Vật tư nông nghiệp Nghệ An thực hiện chính sách cho công nhân lao động vay tiền để ...

Chia sẻ

Tin cùng chuyên mục

Kinh nghiệm phát triển năng suất lao động ở một số nước

Nghiên cứu - Trao đổi -

Kinh nghiệm phát triển năng suất lao động ở một số nước

Năng suất lao động (NSLĐ) là chỉ tiêu đo lường số lượng sản phẩm hoặc giá trị sản phẩm mà một người lao động (NLĐ) thực hiện trong một đơn vị thời gian (giờ, ngày, tháng…); là chỉ tiêu quan trọng nhất thể hiện tính chất và trình độ tiến bộ của một tổ chức, một đơn vị sản xuất hay của một phương thức sản xuất; đồng thời là một trong những yếu tố quyết định đến thu nhập, mức sống của NLĐ. Do đó, nghiên cứu về những giải pháp tăng NSLĐ luôn mang tính thời sự

Những vấn đề cần quan tâm khi thực hiện các cam kết về lao động, công đoàn

Nghiên cứu - Trao đổi -

Những vấn đề cần quan tâm khi thực hiện các cam kết về lao động, công đoàn

Việt Nam đã tham gia vào các “Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới” (FTA). Một trong các vấn đề đặt ra từ đây là sẽ xuất hiện tổ chức và hoạt động của các công đoàn ngoài bên cạnh Công đoàn hiện nay.

Công đoàn Việt Nam trong bối cảnh  Việt Nam phê chuẩn gia nhập Công ước 98

Nghiên cứu - Trao đổi -

Công đoàn Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam phê chuẩn gia nhập Công ước 98

Ngày 14/6/2019, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Nghị quyết “Gia nhập Công ước số 98 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể (TLTT)”. Việc phê chuẩn Công ước 98 chắc chắn sẽ có những ảnh hưởng, tác động đối với NLĐ và tổ chức Công đoàn Việt Nam (CĐVN). Tuy nhiên, việc gia nhập này cũng là cơ hội đòi hỏi tổ chức CĐVN phải phát huy hơn nữa vị trí, vai trò của mình trong việc bảo vệ quyền lợi NLĐ.

Xây dựng chương trình quản lý sức khỏe tinh thần của NLĐ theo ISO 45003:2021

Sức khỏe -

Xây dựng chương trình quản lý sức khỏe tinh thần của NLĐ theo ISO 45003:2021

Công tác quản lý an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại nơi làm việc ngày càng được chú trọng và có nhiều công cụ hỗ trợ để đảm bảo môi trường làm việc tốt nhất, tập trung vào việc đánh giá rủi ro, gánh nặng lao động, cải thiện điều kiện lao động và trách nhiệm xã hội…

Thực hiện pháp luật về An toàn, vệ sinh lao động tại doanh nghiệp

Công đoàn Việt Nam -

Thực hiện pháp luật về An toàn, vệ sinh lao động tại doanh nghiệp

Việc đưa sản xuất trở lại hiện nay là điều rất cần thiết. Tuy nhiên, việc sản xuất chỉ được tiến hành khi đảm bảo đủ các điều kiện an toàn. Hơn bao giờ hết, người lao động (NLĐ) cần phải ý thức được việc tuân thủ các quy định về ATVSLĐ gắn với công tác phòng, chống dịch. Đây là điều có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với bản thân NLĐ và đối với toàn xã hội.

Chăm sóc sức khỏe tâm thần cho nhân viên Y tế trong phòng, chống dịch Covid-19

Sức khỏe -

Chăm sóc sức khỏe tâm thần cho nhân viên Y tế trong phòng, chống dịch Covid-19

Đại dịch Covid-19 gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của nhân viên y tế (NVYT), nhất là sức khỏe tâm thần (SKTT) các NVYT nơi tuyến đầu. Ở ta chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này, trong khi thế giới đã có những khảo sát ban đầu. Việc tìm hiểu kết quả những nghiên cứu này nhằm áp dụng chăm sóc SKTT cho NVYT trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết.

Đọc thêm

Tác động của dịch Covid-19 và giải pháp sau khi hết giãn cách xã hội

An toàn lao động -

Tác động của dịch Covid-19 và giải pháp sau khi hết giãn cách xã hội

Mặc dù Đảng, Nhà nước, các cơ quan ban, ngành, đoàn thể đã có nhiều chính sách hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng dịch Covid-19 nói chung và doanh nghiệp, công nhân lao động (CNLĐ) nói riêng, song với tình hình dịch Covid-19 hiện nay, nếu chúng ta không có các giải pháp đồng bộ ngay từ đầu, thì giải quyết việc làm, thu nhập của CNLĐ sau khi hết giãn cách xã hội là bài toán không dễ tìm lời giải.

Xây dựng và ứng dụng bài giảng E-learning để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn

Nghiên cứu - Trao đổi -

Xây dựng và ứng dụng bài giảng E-learning để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn

Để thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị về Đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới, Ban Chấp hành Tổng LĐLĐ Việt Nam đã ban hành Chương trình hành động số 01/CT-TLĐ ngày 20/7/2021.

Chăm lo phúc lợi xã hội về nhà ở cho công nhân, người lao động

Nghiên cứu - Trao đổi -

Chăm lo phúc lợi xã hội về nhà ở cho công nhân, người lao động

Ngày 12/6/2021, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 02-NQ/TW về “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới”, trong đó, một trong những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu được xác định là: “Nhà nước, chính quyền các cấp có cơ chế huy động, bố trí nguồn lực tài chính thỏa đáng để nâng cao phúc lợi xã hội, chăm lo, giải quyết những vấn đề khó khăn, bức xúc của NLĐ, nhất là nhà ở, trường học, bệnh viện, nơi vui chơi, giải trí, xử lý các tình huống đột xuất ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập”; đây là sự cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, trong đó có vấn đề nhà ở cho CNLĐ mà Chính phủ cũng đã bước đầu thể chế hóa.

Bảo đảm an toàn cho các nhân viên y tế trên tuyến đầu chống dịch

Nghiên cứu - Trao đổi -

Bảo đảm an toàn cho các nhân viên y tế trên tuyến đầu chống dịch

Sự bùng phát nhanh chóng của đại dịch Covid-19 đã biến các nhân viên y tế (NVYT) trở thành lực lượng tuyến đầu trong cuộc chiến ngăn chặn đại dịch. Do tính chất nghề nghiệp, hàng triệu NVYT đã và đang phải mạo hiểm sức khỏe cũng như sự an toàn của bản thân vì sức khỏe của cộng đồng. Nhận diện những rủi ro và đưa ra các giải pháp nhằm đảm bảo an toàn lao động (ATLĐ) và sức khỏe nghề nghiệp (SKNN) cho NVYT rất cần được ưu tiên trong giai đoạn hiện nay.

Covid-19 là một bệnh nghề nghiệp - Quan điểm và đề xuất

Nghiên cứu - Trao đổi -

Covid-19 là một bệnh nghề nghiệp - Quan điểm và đề xuất

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã phân loại bệnh nghề nghiệp thành 29 nhóm với hàng trăm bệnh khác nhau. Còn ở Việt Nam, danh mục các loại bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế chủ trì phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành sau khi lấy ý kiến của Tổng LĐLĐ Việt Nam và tổ chức đại diện người sử dụng lao động. Hiện ở Việt Nam mới có 34 bệnh nghề nghiệp được đưa vào danh mục bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm.

Xem phiên bản di động