Thứ sáu 06/08/2021 00:05
banner-trai-xinh-gai-dep

Nhu cầu và giải pháp phát triển công đoàn tại cơ sở y tế ngoài công lập

Nghiên cứu - Trao đổi - Phạm Thanh Bình - Hoàng Thị Mỹ Hạnh - Nguyễn Đức Hữu - Nguyễn Thanh Tùng - Trần Thị Thu Hiền

Tính đến cuối năm 2018, cả nước ta có hơn 240 bệnh viện tư, hơn 35.000 phòng khám đa khoa, chuyên khoa tư nhân; 66.910 cơ sở bán lẻ, 4.828 cơ sở bán buôn và 380 cơ sở sản xuất, xuất nhập khẩu dược phẩm. Ước tính, khoảng 250 ngàn cán bộ y tế thuộc lĩnh vực ngoài công lập, bằng khoảng 50% cán bộ y tế (CBYT) ở lĩnh vực công. Nhận thức của các đối tượng CBYT ngoài công lập về tổ chức Công đoàn và tổ chức đại diện chưa cao nên tỷ lệ cán bộ y tế (CBYT) ngoài công lập tham gia tổ chức Công đoàn thấp. Do đó, đổi mới phương thức tập hợp NLĐ tham gia tổ chức Công đoàn giai đoạn thực hiện CPTPP, EVFTA là hết sức cần thiết.
Nhu cầu và giải pháp phát triển công đoàn tại cơ sở y tế ngoài công lập

Nhận thức của CBYT ngoài công lập về tổ chức Công đoàn chưa cao nên tỷ lệ CBYT ngoài công lập tham gia tổ chức Công đoàn thấp. Do đó, đổi mới phương thức tập hợp NLĐ tham gia tổ chức Công đoàn giai đoạn thực hiện CPTPP, EVFTA là hết sức cần thiết. Nguồn: ictsunflower.com

Đối tượng, phương pháp và kết quả nghiên cứu

Xuất phát từ thực tế trên, nhóm nghiên cứu tiến hành nghiên cứu đề tài tại 3 TP: Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng với 543 NLĐ ở CSYT ngoài công lập (đã thành lập công đoàn và chưa thành lập) từ tháng 6-9/2020. 543 NLĐ làm tại 24 CSYT tư nhân, gồm 178 người làm việc tại bệnh viện; 290 người làm việc tại các phòng khám đa khoa và chuyên khoa; 60 người làm ở các doanh nghiệp và 15 người làm ở các loại hình CSYT tư nhân khác

Với phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang; kết hợp điều tra định tính (phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm) và định lượng (thống kê và xử lý số liệu điều tra); NLĐ mỗi nhóm cần khảo sát được tính theo công thức tính cỡ mẫu theo tỷ lệ:

Nhu cầu và giải pháp phát triển công đoàn tại cơ sở y tế ngoài công lập

Trong đó: n là số NLĐ được khảo sát; z là hệ số tin cậy. Với độ tin cậy 95% thì giá trị của z = 1,96; p: tỷ lệ NLĐ hài lòng với hoạt động của CĐCS có nhu cầu tham gia công đoàn/tổ chức đại diện cho NLĐ ở cơ sở; q = 1 - p = 0,5; d: sai số chấp nhận, chọn d = 0,08; DE = 1.5; tỷ lệ từ chối/phiếu không hoàn thành: 5%. Áp dụng công thức trên, cỡ mẫu nhóm đã thành lập công đoàn là 240 người, mỗi tỉnh 80 người chọn có chủ đích cho từng loại hình CSYT ngoài công lập; đối tượng chưa thành lập CĐCS làm tròn là 315 NLĐ, mỗi tỉnh chọn 105 ngẫu nhiên ở 15 đơn vị (phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn).

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tính đến cuối năm 2019, tại 22 tỉnh thành phố đã có trên 31.050 CSYT ngoài công lập, trong đó có 82 bệnh viện; 12.084 phòng khám và 18.884 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực y tế. So với cuối năm 2018, số lượng CSYT ngoài công lập tại các tirnh được thống kê đã tăng lên 14,5%. Tuy nhiên, theo thống kê của 39 LĐLĐ tỉnh thành phố, tỷ lệ CSYT ngoài công lập thành lập công đoàn chiếm chỉ 1,3% (670/51.290).

Phân tích 543 NLĐ được điều tra tại 3 tỉnh với đối tượng tại CSYT ngoài công lập đã thành lập công đoàn và chưa thành lập công đoàn thì quyền lợi của người tham gia công đoàn cao hơn đối tượng chưa tham gia về BHXH, BHYT và bảo hiểm tai nạn (xem biểu đồ 1). Cao nhất là tỷ lệ tham gia BHYT 92,9%, cao hơn 74,7% ở các đơn vị chưa tham gia tổ chức Công đoàn.

Nhu cầu và giải pháp phát triển công đoàn tại cơ sở y tế ngoài công lập
Biểu đồ 1: Tình hình tham gia các loại bảo hiểm của NLĐ, phân theo tình trạng thành lập CĐCS

Người tham gia tổ chức Công đoàn ở CSYT ngoài công lập được trang bị bảo hộ lao động (BHLĐ) đầy đủ hơn 65,8% so với 46,7% ở các CSYT chưa tham gia công đoàn (xem biểu đồ 2).

Nhu cầu và giải pháp phát triển công đoàn tại cơ sở y tế ngoài công lập
Biểu đồ 2: So sánh mức độ trang bị BHLĐ trong các CSYT ngoài công lập

NLĐ tham gia công đoàn, ngoài lương, tiền chuyên cần, tiền phụ cấp, tiền độc hại cao hơn ở các CSYT chưa có tổ chức Công đoàn (xem biểu đồ 3). Cao nhất là tiền độc hại 41,6% so với 5,49%.

Nhu cầu và giải pháp phát triển công đoàn tại cơ sở y tế ngoài công lập

Biểu đồ 3: So sánh các khoản thu nhập ngoài lương của NLĐ, phân theo đơn vị có công đoàn và đơn vị chưa có công đoàn

Kết quả khảo sát ở đơn vị chưa thành lập công đoàn cho thấy, có 64,5% cho biết họ không mong muốn thành lập tổ chức đại diện NLĐ trong đơn vị mình (xem biểu đồ 4).

Nhu cầu và giải pháp phát triển công đoàn tại cơ sở y tế ngoài công lập
Biểu đồ 4: Mong muốn thành lập tổ chức đại diện NLĐ trong các CSYT ngoài công lập

Tỷ lệ trung bình 72,5% muốn thành lập tổ chức Công đoàn theo hình thức kết hợp phương pháp truyền thống và phương pháp mới (xem bảng 1).

Kết quả khảo sát cho thấy, mặc dù đơn vị chưa có tổ chức CĐCS, nhưng đã có 87,2% NLĐ tham gia khảo sát đã từng nghe nói đến tổ chức Công đoàn, nhưng nhận thức về tổ chức Công đoàn thì chỉ 12,8%.

Một đặc trưng cơ bản của các Hiệp định tự do thương mại thế hệ mới là đưa những tiêu chuẩn rất mới gắn với quyền con người với các vấn đề xã hội và vấn đề quản trị quốc gia vào hiệp định. Việt Nam đã cam kết thể hiện cụ thể hóa tại Điều 170, Bộ luật Lao động năm 2019 về quyền thành lập, gia nhập và tham gia hoạt động của tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở, cho phép NLĐ tại một doanh nghiệp được thành lập “tổ chức đại diện của NLĐ” mà không cần phải có sự ủy quyền trước từ bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào.

CSYT ngoài công lập gia tăng 14,5%/ năm, số lượng CĐCS trong các CSYT ngoài công lập đã tăng lên 11,3%, tỷ lệ CSYT ngoài công lập tham gia công đoàn rất thấp (1,9%). Khảo sát cho thấy, 65% NLĐ không muốn tham gia tổ chức NLĐ mới, đây là một thuận lợi cho tổ chức Công đoàn Việt Nam. 72,5% NLĐ mong muốn vào tổ chức Công đoàn bằng cả hai phương thức kết hợp cũ và mới. Lý do họ muốn tham gia tổ chức Công đoàn Việt Nam là có lợi hơn so với không tham gia tổ chức Công đoàn tại các biểu đồ 1,2,3 về các chế độ BHXH, BHYT, bảo hiểm tai nạn và đặc biệt là trang thiết bị bảo hộ và chế độ độc hại.

Bảng 1: Các hình thức vận động thành lập CĐCS theo mô hình hoạt động của các CSYT ngoài công lập

Cách thức vận động

Phòng khám

Bệnh viện

Doanh nghiệp

Tỷ lệ chung

Công đoàn cấp trên tiếp cận NSDLĐ và đề nghị thành lập CĐCS.

12.9%

50.0%

31.6%

18.0%

Công đoàn cấp trên tiếp cận và vận động NLĐ tự nguyện thành lập CĐCS.

9.8%

10.0%

0.0%

9.5%

Kết hợp cả 2 hình thức trên

77.3%

40.0%

68.4%

72.5%

Như vậy, tập hợp lực lượng lao động tại các CSYT ngoài công lập là một mục tiêu cấp bách. Giải pháp để tập hợp được lực lương này chính là đồng bộ về văn bản, hướng dẫn của Tổng Liên đoàn về việc tập hợp theo phương pháp kết hợp cũ và mới. Tại 670 CĐCS năm 2019 có 51.290 người (trung bình 77 đoàn viên 1 CĐCS); trên thực tế NLĐ trong các CSYT ngoài công lập mong muốn thành lập các công đoàn ghép theo các lĩnh vực chuyên khoa của ngành. Hiện nay mô hình công đoàn ghép này cũng chưa có hướng dẫn của Tổng Liên đoàn, cần được thí điểm mô hình để nhẩn rộng.

Về công tác tuyên truyền, 87,2% NLĐ tham gia khảo sát đã từng nghe nói đến tổ chức Công đoàn, nhưng nhận thức về tổ chức Công đoàn thì chỉ 12,8%. Do đó, tuyên truyền cho đối tượng lao động cần được quan tâm đầu tiên để họ hiểu biết đầy đủ về hệ thống công đoàn, từ đó họ mới có mong muốn tham gia, thành lập ban vận động. Không chỉ có NLĐ, NSDLĐ cũng cần hiểu biết đầy đủ về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của họ.

Cần có sự chỉ đạo thống nhất của cấp ủy Đảng các địa phương doanh nghiệp, kết hợp với cơ quan quản lý nhà nước về y tế tại địa phương để nắm bắt chính sách các CSYT được cấp phép hoạt động để có kế hoạch phối hợp tuyên truyền vận động tham gia tổ chức Công đoàn Việt Nam. Ngoài ra, có rất nhiều hội nghề nghiệp tại địa phương, có thể thông qua kênh để tuyên truyền NLĐ ở CSYT ngoài công lập tham gia tổ chức Công đoàn và phối hợp bảo vệ NLĐ.

Nhu cầu và giải pháp phát triển công đoàn tại cơ sở y tế ngoài công lập

Lãnh đạo LĐLĐ tỉnh Kon Tum và Phó Chủ tịch Công đoàn ngành Y tế tỉnh thăm, động viên cán bộ y tế làm nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19 tại Chốt số 6 huyện Tu Mơ Rông . Nguồn: syt.kontum.gov.vn

Kết luận

1. CSYT ngoài công lập gia tăng 14,5%/năm; số lượng CĐCS trong các CSYT ngoài công lập đã tăng 11,3%, nhưng tỷ lệ CSYT ngoài công lập tham gia công đoàn rất thấp (1,9%).

2. Nhận thức về tổ chức Công đoàn chưa đầy đủ, 87,2% NLĐ tham gia khảo sát đã từng nghe nói đến tổ chức Công đoàn, nhưng nhận thức về tổ chức Công đoàn thì chỉ có 12,8%.

3. So sánh giữa NLĐ tại CSYT có công đoàn thì các chế độ BHXH, BHYT, bảo hiểm tai nạn và đặc biệt là trang thiết bị bảo hộ và chế độ độc hại cao hơn.

4. Khảo sát cho thấy, 65% NLĐ không muốn tham gia tổ chức của NLĐ mới, đây là một thuận lợi cho tổ chức Công đoàn Việt Nam. 72,5% NLĐ mong muốn vào tổ chức Công đoàn bằng cả hai phương thức cũ và mới.

Nghiên cứu chỉ ra việc tập hợp NLĐ ở CSYT ngoài công lập là yêu cầu cấp bách và cần phải đổi mới phương thức tập hợp theo hướng công đoàn ghép các lĩnh vực chuyên ngành; kết hợp với hội nghề nghiệp, cơ quan quản lý dưới sự chỉ đạo của cấp ủy để tập hợp NLĐ tham gia tổ chức Công đoàn; cần kết hợp cả hai phương pháp tập hợp truyền thống và phương pháp mới.

Nhu cầu và giải pháp phát triển công đoàn tại cơ sở y tế ngoài công lập
Tuyên truyền cho NLĐ hiểu biết đầy đủ về hệ thống công đoàn, từ đó NLĐ mới có mong muốn tham gia tổ chức Công đoàn. Ảnh: Ngọc Thủy

Khuyến nghị

Tổng LĐLĐ Việt Nam cần có văn bản hướng dẫn đầy đủ, đồng bộ về phương thức tập hợp lồng ghép mới và cũ; hướng dẫn về thành lập CĐCS ghép; tăng cường tuyên truyền đầy đủ cho cho NLĐ, NSDLĐ; đào tạo cho đội ngũ cán bộ công đoàn cấp trên chuyên nghiệp để hướng dẫn ban vận động.

Xây dựng kế hoạch tổng thể và giao chỉ tiêu thành lập công đoàn CSYT ngoài công lập cho LĐLĐ các địa phương, Công đoàn ngành Y tế hàng năm. Chỉ đạo công đoàn các cấp phối hợp với hội nghề nghiệp, cơ quan quản lý hành nghề địa phương tập hợp NLĐ tham gia tổ chức Công đoàn.

Tài liệu tham khảo

  1. Jacques Bourgeois, WilmerHale và Trường cao đẳng Châu Âu (2013): Một phân tích so sánh về các quy định được lựa chọn trong các hiệp định thương mại tự do - phần “Quy định FTA về tiêu chuẩn lao động”.
  2. Tổng LĐLĐ Việt Nam - FES (Hà Nội, 26/2/2014): Hội thảo quốc tế “Vấn đề lao động và vai trò của công đoàn trong hiệp định thương mại tự do (FTA) EU với các nước”.
  3. TS. Phạm Thị Thu Lan (2020), Thực hiện cam kết về lao động trong NAFTA: Thực tiễn Mexico và bài học cho Việt Nam, Nxb Lao động, HN.
  4. ThS. Nguyễn Ngọc Sơn (2014), Tình hình tổ chức, cán bộ công đoàn chuyên trách công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở, đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực hoạt động đáp ứng yêu cầu mới.
  5. Viện Công nhân và Công đoàn (2015), “Đổi mới mô hình tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động công đoàn hướng về đoàn viên và NLĐ thời gian tới”, Đề tài cấp TLĐ.
  6. Viện Công nhân và Công đoàn (2015), “Dự báo tác động tới việc làm, QHLĐ và hoạt động công đoàn khi Việt Nam gia nhập các hiệp định thương mại tự do” Đề tài cấp TLĐ.

Chú thích

  1. PGS. TS. Phạm Thanh Bình, Chủ tịch Công đoàn Y tế Việt Nam;
  2. TS. Hoàng Thị Mỹ Hạnh, Nghiên cứu viên Viện Chiến lược và Chính sách Y tế;
  3. TS. Nguyễn Đức Hữu, Giảng viên Trường Đại học Công đoàn;
  4. ThS. Nguyễn Thanh Tùng, Phó Trưởng phòng Nghiên cứu khoa học, Viện Công nhân và Công đoàn
  5. CN. Trần Thị Thu Hiền, Ban Tổ chức Công đoàn Y tế Việt Nam.
Vaccine có thực sự là lá chắn Covid-19? Vaccine có thực sự là lá chắn Covid-19?

53 nhân viên BV Bệnh Nhiệt đới TP. Hồ Chí Minh dương tính với SARS-CoV-2 sau khi tiêm vaccine. Vậy vaccine có thực sự là ...

Nữ cán bộ công đoàn là điểm tựa vững chắc của NLĐ, là hậu phương yên bình của gia đình Nữ cán bộ công đoàn là điểm tựa vững chắc của NLĐ, là hậu phương yên bình của gia đình
Đồng chí Nguyễn Thị Mai Chi (sinh năm 1993) là nữ Chủ tịch công đoàn Công ty TNHH ...
Công ty cho người lao động vay tiền trang trải cuộc sống: Câu chuyện ấm áp nghĩa tình Công ty cho người lao động vay tiền trang trải cuộc sống: Câu chuyện ấm áp nghĩa tình

5 năm qua, Tổng Công ty CP Vật tư nông nghiệp Nghệ An thực hiện chính sách cho công nhân lao động vay tiền để ...

Chia sẻ

Tin cùng chuyên mục

Một số vấn đề then chốt để xây chắc nền móng tổ chức Công đoàn

Nghiên cứu - Trao đổi -

Một số vấn đề then chốt để xây chắc nền móng tổ chức Công đoàn

Kỷ niệm 92 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/07/1929 - 28/07/2021) và nhân dịp Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành Nghị quyết số 02-NQ/TW, ngày 12/06/2021 “Về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới”; đồng chí Trần Thanh Hải, Phó Chủ tịch Thường trực Tổng LĐLĐ Việt Nam có bài viết nhan đề “Một số vấn đề then chốt để xây chắc nền móng tổ chức Công đoàn”; trong đó đồng chí phân tích, lý giải sâu sắc một số vấn đề cốt lõi từ sự phát triển tư duy nhận thức về vai trò, nhiệm vụ của công tác đoàn viên đến trách nhiệm của đoàn viên, công đoàn cơ sở trong nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động. Do khuôn khổ có hạn, Tạp chí LĐ&CĐ sẽ đăng tải nhiều kỳ toàn văn bài viết quan trọng nói trên của đồng chí Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn, với kỳ 1 đăng tải tại số này. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Phát huy vai trò các tổ chức Đảng, CĐ trong DN KVNNN từ thực tiễn vùng Đông Nam Bộ

Nghiên cứu - Trao đổi -

Phát huy vai trò các tổ chức Đảng, CĐ trong DN KVNNN từ thực tiễn vùng Đông Nam Bộ

Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị “Về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới” đã đề ra 05 qun điểm, trong đó có nội dung “Đổi mới tổ chức và hoạt động công đoàn phải bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng, phù hợp với thể chế chính trị đất nước, yêu cầu hội nhập quốc tế”. Trong bối cảnh hiện nay, việc phát huy vai trò các tổ chức Đảng, công đoàn trong các doanh nghiệp khu vực ngoài Nhà nước là một yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách.

Nghị quyết 02 và những thông điệp đổi mới tổ chức, hoạt động của Công đoàn

Nghiên cứu - Trao đổi -

Nghị quyết 02 và những thông điệp đổi mới tổ chức, hoạt động của Công đoàn

Xây dựng đội ngũ chủ tịch CĐCS ngoài khu vực nhà nước đủ năng lực, phẩm chất, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ là một lựa chọn trong khâu đột phá của Đại hội XII Công đoàn Việt Nam (CĐVN). Những giải pháp thực hiện nhiệm vụ quan trọng này sẽ có cơ hội được đẩy mạnh toàn diện trong quá trình triển khai Nghị quyết số 02-NQ/TW, ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị về đổi mới tổ chức và hoạt động của CĐVN trong tình hình mới (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 02).

Ý nghĩa việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 02-NQ/TW của Bộ Chính trị

Nghiên cứu - Trao đổi -

Ý nghĩa việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 02-NQ/TW của Bộ Chính trị

Lịch sử xây dựng và phát triển của Công đoàn Việt Nam hơn 90 năm qua gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Công đoàn Việt Nam luôn là cơ sở chính trị - xã hội vững chắc của Đảng và Nhà nước ta. Do vậy, ở mỗi giai đoạn, thời kỳ cách mạng, Đảng luôn có những định hướng, chỉ đạo và lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, kịp thời đối với hoạt động Công đoàn Việt Nam. Việc Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 02-NQ/TW (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 02), ngày 12/06/2021 Về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam là minh chứng mới nhất cho điều đó.

Quan điểm của Lê-nin về vai trò của công đoàn và sự vận dụng vào điều kiện ở nước ta

Nghiên cứu - Trao đổi -

Quan điểm của Lê-nin về vai trò của công đoàn và sự vận dụng vào điều kiện ở nước ta

Nghị quyết số 02-NQ/TW, ngày 12/06/2021 của Bộ Chính trị Về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới là văn bản cực kỳ quan trọng chỉ đạo hoạt động của tổ chức Công đoàn Việt Nam trong các thập kỷ tới. Nhân dịp này, chúng ta cùng điểm lại một số quan điểm của V.I.Lê-nin về vai trò của công đoàn trong thời kỳ quá độ để vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta, góp phần thắng lợi đưa Nghị quyết 02-NQ/TW vào cuộc sống.

Một vài suy nghĩ về việc quán triệt, triển khai, thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW

Nghiên cứu - Trao đổi -

Một vài suy nghĩ về việc quán triệt, triển khai, thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW

Với tinh thần trách nhiệm cao và niềm tự hào về tổ chức Công đoàn Việt Nam khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 02 Về tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới; mỗi cán bộ, đoàn viên công đoàn cần nhận thức đúng vị trí, vai trò trách nhiệm của mình trong việc thực hiện Nghị quyết, góp phần xây dựng tổ chức Công đoàn, GCCN ngày càng vững mạnh, xứng đáng với niềm tin của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đọc thêm

Những biến đổi tích cực trong cơ cấu giai cấp công nhân nước ta hiện nay

Nghiên cứu - Trao đổi -

Những biến đổi tích cực trong cơ cấu giai cấp công nhân nước ta hiện nay

Tác động của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ, hội nhập quốc tế và sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước đã dẫn đến những biến đổi lớn trong cơ cấu xã hội và bản thân mỗi giai cấp. Trong đó, giai cấp công nhân (GCCN) Việt Nam đã phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, năng động, sáng tạo, chủ động hơn trong quá trình sản xuất kinh doanh.

GDNN trong bối cảnh Covid-19 - kinh nghiệm từ một số nước và gợi ý cho Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi -

GDNN trong bối cảnh Covid-19 - kinh nghiệm từ một số nước và gợi ý cho Việt Nam

Cuộc khủng hoảng Covid-19 toàn cầu gây ra áp lực lớn và chưa từng có đối với các chính phủ và các cơ quan, doanh nghiệp ở tất cả các lĩnh vực. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp (GDNN) cũng bị tác động nặng nề và gặp khó khăn không nhỏ trong việc dự đoán, thích ứng với một thị trường lao động thay đổi trong thời gian tới. Các quốc gia trên thế giới đã đề ra những cách ứng phó với khủng hoảng khi dịch bệnh diễn ra và đó có thể được xem là những bài học tham khảo cho phát triển GDNN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Kinh tế số - động lực quan trọng đưa Việt Nam phát triển

Nghiên cứu - Trao đổi -

Kinh tế số - động lực quan trọng đưa Việt Nam phát triển

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng có nhiều điểm mới nổi bật, trong đó có nội dung liên quan đến tạo lập cơ sở hạ tầng để chuyển đổi số quốc gia, xây dựng xã hội số và nền kinh tế số (KTS). Nghị quyết Đại hội XIII cũng đã nhấn mạnh việc phát triển KTS trong thời gian tới, xem KTS là một trong các hướng đột phá chiến lược.

Cán bộ công đoàn - Thủ lĩnh của những người lao động

Công đoàn Việt Nam -

Cán bộ công đoàn - Thủ lĩnh của những người lao động

Mối quan tâm thường trực của người lao động (NLĐ) luôn là lương và thu nhập. Không nhiều nhà đầu tư sẵn sàng chia sẻ “miếng bánh” này với NLĐ, mặc dù trong số họ có nhiều người thường nói NLĐ là tài sản quý nhất của doanh nghiệp. Vì vậy, hiểu rõ và thông cảm, sẻ chia với những khó khăn của NLĐ là yêu cầu số một của cán bộ công đoàn - những người giữ vai trò là thủ lĩnh của công nhân lao động (CNLĐ). Là người có nhiều năm nghiên cứu về đội ngũ cán bộ công đoàn - những thủ lĩnh, tôi có một số suy nghĩ về yêu cầu đặt ra với người thủ lĩnh này.

Khơi dậy tinh thần đoàn kết phòng, chống dịch Covid-19 trong điều kiện mới

Công đoàn Việt Nam -

Khơi dậy tinh thần đoàn kết phòng, chống dịch Covid-19 trong điều kiện mới

Dịch bệnh Covid-19 tiếp tục lan rộng như cú đánh bồi vào cơ thể vốn đã ốm yếu của nhiều nền kinh tế. Trong lúc này, Đảng ta kêu gọi toàn thể dân tộc Việt Nam hãy phát huy tinh thần đoàn kết, chống dịch như chống giặc để phát triển đất nước trong trạng thái bình thường mới.

Xem phiên bản di động