Thứ bảy 25/09/2021 11:11
npk-phu-my
banner-trai-xinh-gai-dep

Những biến đổi tích cực trong cơ cấu giai cấp công nhân nước ta hiện nay

Nghiên cứu - Trao đổi - Lê Sỹ Tiệp - Tô Quốc Anh - Học viện Lục quân

Tác động của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ, hội nhập quốc tế và sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước đã dẫn đến những biến đổi lớn trong cơ cấu xã hội và bản thân mỗi giai cấp. Trong đó, giai cấp công nhân (GCCN) Việt Nam đã phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, năng động, sáng tạo, chủ động hơn trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Những biến đổi tích cực trong cơ cấu giai cấp công nhân nước ta hiện nay
Người lao động Quảng Trị hưởng ứng Tháng Công nhân. Nguồn: quangtri.gov.vn

Phát triển về số lượng, chất lượng

Quá trình CNH, HĐH, hợp tác quốc tế ở nước ta những năm qua đã làm xuất hiện nhiều ngành nghề mới trong xã hội. Sự xuất hiện của những ngành nghề mới này đã thu hút một lực lượng lao động nhất định. Bên cạnh đó, sự bùng nổ các ngành sản xuất, dịch vụ đã thu hút một lượng lớn nguồn nhân lực, dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ về số lượng của GCCN nước ta. Nếu trước những năm đổi mới, số lượng công nhân nước ta mới là 7 triệu người, đến năm 2007 là 9,5 triệu người và năm 2013 tăng lên gần 11 triệu người thì hiện nay, số lượng công nhân nước ta đã có khoảng 16,5 triệu người1.

Kết quả của việc thực hiện những chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và quá trình mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế của Đảng, Nhà nước trong những năm qua còn tạo thuận lợi cho GCCN nước ta phát triển đa dạng hơn, có mặt trong tất cả các thành phần kinh tế. Trong số khoảng 16,5 triệu công nhân nói trên, có tới 62% thuộc doanh nghiệp tư nhân, 30% trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và chỉ khoảng 8% thuộc doanh nghiệp nhà nước2.

Không chỉ phát triển nhanh về số lượng, trình độ học vấn, chuyên môn và trình độ tay nghề của công nhân nước ta cũng đang có sự chuyển động mạnh mẽ theo hướng tích cực; đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và công cuộc hội nhập quốc tế. Trình độ học vấn, chuyên môn, trình độ tay nghề của người công nhân gắn chặt với cơ hội tìm kiếm việc làm và nâng cao thu nhập. Đây là động lực quan trọng thúc đẩy NLĐ tự nguyện tự giác, không ngừng phấn đấu học tập nâng cao trình độ mọi mặt, cả về văn hóa, chuyên môn và tay nghề để có thể đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi mà các ngành nghề sản xuất và xã hội đặt ra.

Những biến đổi tích cực trong cơ cấu giai cấp công nhân nước ta hiện nay
Đội ngũ công nhân là lực lượng tiên phong, có đóng góp to lớn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Ảnh: Nhật Nam

Kết quả thống kê cho thấy, nếu so với năm 2005, lao động qua đào tạo chỉ chiếm 12,5% tổng số lao động, thì đến năm 2010 tăng lên 14,6% và đến 2016 tăng lên 20,6%3. Nếu phân theo ngành nghề, tỷ lệ công nhân được đào tạo chuyên môn trong lĩnh vực khai khoáng tăng từ 33,3% năm 2010 lên 50,4% năm 2016; lĩnh vực công nghiệp chế biến tăng từ 13,4% năm 2010 lên 18,5% năm 2016; lĩnh vực xây dựng tăng từ 12,6% năm 2010 lên 14,0% năm 2016; lĩnh vực dịch vụ vận tải tăng từ 33,6% năm 2010 lên 55,2% năm 2016; lĩnh vực dịch vụ tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng từ 79,3% năm 2010 lên 83,1% năm 20164.

Khi trình độ chuyên môn, tay nghề của CNLĐ được nâng lên, cùng với nỗ lực của hệ thống chính trị các cấp, tổ chức Công đoàn trong việc truyên truyền, giáo dục ý thức, bản lĩnh chính trị, thì tinh thần trách nhiệm trong lao động sản xuất của CNLĐ cũng ngày càng được nâng cao. Yêu cầu của nền sản xuất hiện đại một mặt rèn luyện đội ngũ CNLĐ tác phong công nghiệp, năng động, sáng tạo hơn, mặt khác, giúp NLĐ thực hiện kỷ luật lao động theo hướng tự giác, minh bạch hơn.

Công nhân trong các KCN, các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước và có vốn đầu tư nước ngoài được tiếp xúc với máy móc, thiết bị hiện đại, làm việc với các chuyên gia nước ngoài được học hỏi, nâng cao tay nghề, kỹ năng lao động, rèn luyện tác phong công nghiệp, phương pháp làm việc tiên tiến. Lớp công nhân trẻ được đào tạo nghề theo chuẩn nghề nghiệp ngay từ đầu, có tri thức, nắm vững khoa học - công nghệ tiên tiến, được rèn luyện trong thực tiễn sản xuất hiện đại,… dần khẳng định là lực lượng lao động chủ đạo trong xã hội, có tác động tích cực đến sản xuất công nghiệp, giá trị sản phẩm công nghiệp, gia tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy chỉ chiếm tỷ lệ trên 14% dân số, 27% lực lượng lao động xã hội, song hằng năm GCCN nước ta đã tạo ra trên 65% giá trị tổng sản phẩm xã hội và hơn 70% ngân sách nhà nước6.

Những biến đổi tích cực trong cơ cấu giai cấp công nhân nước ta hiện nay

Công nhân Công ty TNHH Nghiên cứu kỹ thuật R Việt Nam trong dây chuyền sản xuất thấu kính. Nguồn: baohoabinh.com.vn

Một số vấn đề đặt ra trong xây dựng GCCN hiện nay

Những biến đổi tích cực trong của GCCN nước ta đã góp phần to lớn vào sự phát triển kinh tế -xã hội. Tuy nhiên, trong nội bộ GCCN nước ta cũng đang xuất hiện một số vấn đề cần quan tâm. Mặc dù trình độ học vấn, chuyên môn, nghề nghiệp của CNLĐ nước ta đã được nâng lên, song vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; đang có sự mất cân đối trong cơ cấu lao động kỹ thuật, rõ nét nhất là tình trạng thiếu nghiêm trọng chuyên gia kỹ thuật, nhà quản lý giỏi, công nhân có trình độ tay nghề cao. Tình trạng công nhân làm việc không đúng với chuyên môn, ngành nghề được đào tạo còn khá phổ biến. Sự phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội đang diễn ra khá sâu sắc trong nội bộ giai cấp. Ý thức chính trị, nhận thức về luật pháp và ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp của một bộ phận công nhân còn hạn chế. Tỷ lệ đảng viên, đoàn viên công đoàn trong CNLĐ còn thấp...

Nguyên nhân cơ bản dẫn đến những mặt hạn chế nêu trên là xuất phát từ đặc điểm của một nước nông nghiệp, thành phần xuất thân của một lượng lớn công nhân nước ta hiện nay vẫn từ nông dân, trình độ, chuyên môn nghề nghiệp còn hạn chế và còn chịu sự chi phối bởi tác phong, lề lối làm việc của người nông dân tiểu nông, chưa thích nghi với tác phong, kỷ luật lao động công nghiệp hiện đại. Sự phát triển nhanh và không đồng đều của các ngành nghề, thành phần kinh tế khác nhau cũng tạo ra những yêu cầu và môi trường làm việc khác nhau đối với người công nhân, cả về tính chất lao động, trình độ sản xuất công nghiệp, văn hóa trong lao động và thu nhập...

Những biến đổi tích cực trong cơ cấu giai cấp công nhân nước ta hiện nay

Để xây dựng GCCN nước ta tiếp tục đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, theo chúng tôi, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, phát triển đội ngũ CNLĐ có trình độ cao, làm chủ được khoa học - công nghệ, có kỹ năng lao động, tác phong công nghiệp, ý thức kỷ luật. Muốn vậy, cần rà soát, bổ sung, sửa đổi, xây dựng chính sách đào tạo và đào tạo lại công nhân. Tạo điều kiện và khuyến khích công nhân tự học tập nâng cao trình độ, thích ứng với ngành nghề và môi trường lao động. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư kinh phí và thời gian cho đào tạo, đào tạo lại công nhân.

Hai là, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNLĐ ở tất cả các thành phần kinh tế. Quan tâm xây dựng, hoàn thiện các chính sách, pháp luật về lao động, việc làm, đời sống, nâng cao thể chất cho công nhân. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của Nhà nước, tổ chức Công đoàn trong việc thực hiện pháp luật lao động tại doanh nghiệp, có chế tài xử lý nghiêm các tổ chức và cá nhân vi phạm chính sách, pháp luật.

Ba là, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho CNLĐ, đặc biệt là công nhân lao động ở các KCN, KCX. Tiếp tục cải cách chính sách tiền lương, bảo đảm đời sống cho NLĐ và để họ có tích lũy từ tiền lương. Xây dựng và thực hiện tốt các chính sách BHXH, BHYT, BHTN, chính sách về nhà ở và các thiết chế văn hóa, thể thao, chăm sóc sức khỏe cho CNLĐ.

Bốn là, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong các doanh nghiệp. Tăng cường vai trò, nâng cao chất lượng hoạt động của các cấp uỷ đảng, công đoàn và các đoàn thể nhân dân trong việc phát triển đảng viên, đoàn viên, hội viên trong các loại hình doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp ngoài nhà nước. Khuyến khích, tạo điều kiện cho CNLĐ chủ động tìm hiểu, nâng cao kiến thức pháp luật, nắm bắt những quy định về quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ lao động, giúp họ tự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng trong trường hợp cần thiết, nhằm góp phần giảm thiểu tranh chấp lao động và đình công trái pháp luật trong doanh nghiệp.

Những biến đổi tích cực trong cơ cấu giai cấp công nhân nước ta hiện nay
Chương trình tập huấn về an toàn vệ sinh lao động dành cho công nhân. Nguồn: quangtri.gov.vn

Chú thích:

1, 2. Phan Linh: Vị thế của GCCN Việt Nam - Một vấn đề đặt ra về nhận thức trong bối cảnh mới, Tạp chí Mặt trận điện tử, 29/12/2020.

3, 4. Tổng cục Thống kê: Niên giám thống kê 2016, Nxb Thống kê, HN, 2017.

5. Đảng CSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu BCH Trung ương khóa X, Nxb CTQG, HN, 2008, tr.44.

6. Minh Duyên: GCCN Việt Nam - lực lượng tiên phong của cách mạng Việt Nam, baokiemtoannhanuoc, 27/4/2020.

Người dân Đà Nẵng trở về từ TP. HCM: Người dân Đà Nẵng trở về từ TP. HCM: "Vui mừng và cảm kích!"

Vừa đặt chân xuống Sân bay Quốc tế Đà Nẵng, anh Trần Văn Hoàng cho biết: “2 tháng nay, do ảnh hưởng của dịch bệnh ...

Hà Nội: Chuẩn bị hàng nghìn giường bệnh để điều trị các ca nhiễm Covid-19 Hà Nội: Chuẩn bị hàng nghìn giường bệnh để điều trị các ca nhiễm Covid-19

Khi các ca bệnh có thể tăng thêm, nhằm chuẩn bị các phương án “4 tại chỗ”, ngành Y tế TP Hà Nội đã chuẩn ...

Lựa chọn trong những ngày chống dịch Lựa chọn trong những ngày chống dịch

Bội thực giữa những thông tin trên mạng xã hội, tôi thích chia sẻ này của “người nổi tiếng” Minh rau “Cách tốt nhất để ...

Chia sẻ

Tin cùng chuyên mục

Bảo đảm an toàn cho các nhân viên y tế trên tuyến đầu chống dịch

Nghiên cứu - Trao đổi -

Bảo đảm an toàn cho các nhân viên y tế trên tuyến đầu chống dịch

Sự bùng phát nhanh chóng của đại dịch Covid-19 đã biến các nhân viên y tế (NVYT) trở thành lực lượng tuyến đầu trong cuộc chiến ngăn chặn đại dịch. Do tính chất nghề nghiệp, hàng triệu NVYT đã và đang phải mạo hiểm sức khỏe cũng như sự an toàn của bản thân vì sức khỏe của cộng đồng. Nhận diện những rủi ro và đưa ra các giải pháp nhằm đảm bảo an toàn lao động (ATLĐ) và sức khỏe nghề nghiệp (SKNN) cho NVYT rất cần được ưu tiên trong giai đoạn hiện nay.

Covid-19 là một bệnh nghề nghiệp - Quan điểm và đề xuất

Nghiên cứu - Trao đổi -

Covid-19 là một bệnh nghề nghiệp - Quan điểm và đề xuất

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã phân loại bệnh nghề nghiệp thành 29 nhóm với hàng trăm bệnh khác nhau. Còn ở Việt Nam, danh mục các loại bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế chủ trì phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành sau khi lấy ý kiến của Tổng LĐLĐ Việt Nam và tổ chức đại diện người sử dụng lao động. Hiện ở Việt Nam mới có 34 bệnh nghề nghiệp được đưa vào danh mục bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm.

Sự giúp đỡ kịp thời cho doanh nghiệp và người lao động

Nghiên cứu - Trao đổi -

Sự giúp đỡ kịp thời cho doanh nghiệp và người lao động

Ngày 24/8/2021, Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã ban hành Quyết định số 3089/QĐ-TLĐ về hỗ trợ bữa ăn cho đoàn viên, người lao động thực hiện “3 tại chỗ” trên địa bàn các tỉnh, thành phố thực hiện giãn cách theo Chỉ thị 16/CT-TTg. Mức hỗ trợ là 1 triệu đồng/người và thời điểm thực hiện tính từ ngày 24/8/2021, thời điểm Quyết định có hiệu lực.

Lao động nữ làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất và vai trò của công đoàn

Nghiên cứu - Trao đổi -

Lao động nữ làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất và vai trò của công đoàn

Lao động nữ (LĐN) là nhóm lao động đặc thù, ngoài việc chịu điều chỉnh của pháp luật lao động như những NLĐ khác, quyền lợi của LĐN còn được điều chỉnh bởi các quy định riêng. LĐN làm việc tại các KCN, KCX có những đặc điểm riêng về điều kiện làm việc, nhu cầu chăm sóc sức khoẻ, ATVSLĐ, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi…

Hoạt động công đoàn khi Việt Nam tham gia Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới*

Nghiên cứu - Trao đổi -

Hoạt động công đoàn khi Việt Nam tham gia Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới*

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt là một số FTA thế hệ mới, trong đó có các điều khoản về tôn trọng và thúc đẩy các tiêu chuẩn lao động (TCLĐ) cơ bản của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Những cam kết tại các văn bản pháp lý quốc tế này đặt ra nhu cầu cấp thiết về hoàn thiện pháp luật quốc gia tiệm cận xu hướng tiến bộ của thế giới để điều chỉnh hài hòa các quan hệ lao động.

Mô hình phù hợp đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ

Nghiên cứu - Trao đổi -

Mô hình phù hợp đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến thời điểm 31/12/2018, trong số 610.637 doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh trên cả nước, có tới 98,1% là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ (từ 100 lao động trở xuống). Riêng doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ (từ 10 lao động trở xuống) có 382.444 doanh nghiệp, chiếm 62,6% số doanh nghiệp cả nước.

Đọc thêm

Thực tiễn về đối thoại xã hội trong quan hệ lao động

Nghiên cứu - Trao đổi -

Thực tiễn về đối thoại xã hội trong quan hệ lao động

Đối thoại xã hội (ĐTXH) là con đường quan trọng để thúc đẩy việc thực hiện hiệu quả các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động tại nơi làm việc.

Thực trạng tiền lương, thu nhập, đời sống của người lao động Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi -

Thực trạng tiền lương, thu nhập, đời sống của người lao động Việt Nam

Tiền lương là điều kiện vật chất để NLĐ sống và hành động. Điều kiện vật chất ngày càng đầy đủ, dư dả sẽ càng giải phóng con người khỏi những lo toan thường nhật. Thị trường lao động ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng lụy vào tiền lương nhiều hơn, và do đó, người ta càng chăm chú tìm những cơ sở sản xuất kinh doanh (SXKD) có thể lo được các mức lương khả dĩ hơn.

Phát huy vai trò của công đoàn trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Nghiên cứu - Trao đổi -

Phát huy vai trò của công đoàn trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị Về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới nêu rõ: “Xây dựng Công đoàn Việt Nam vững mạnh là góp phần quan trọng xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân và bảo vệ chế độ XHCN”.

Xây dựng giai cấp công nhân, Công đoàn Việt Nam vững mạnh

Nghiên cứu - Trao đổi -

Xây dựng giai cấp công nhân, Công đoàn Việt Nam vững mạnh

Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới khẳng định: “Xây dựng Công đoàn Việt Nam vững mạnh và xây dựng giai cấp công nhân (GCCN) Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới là trách nhiệm của Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội”. Đây là quan điểm hàng đầu trong việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong bối cảnh mới, dựa trên cơ sở lý luận sâu sắc và cơ sở thực tiễn sinh động.

Những vấn đề đặt ra đối với tổ chức và hoạt động công đoàn

Nghiên cứu - Trao đổi -

Những vấn đề đặt ra đối với tổ chức và hoạt động công đoàn

92 năm ra đời và phát triển, tổ chức Công đoàn Việt Nam ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị và bảo vệ quyền lợi người lao động (NLĐ). Song, việc thực hiện các cam kết về lao động trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đang đặt ra nhiều thách thức trong tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam.

Xem phiên bản di động