e magazine
Những quy định mới về tiền thưởng và tạm ứng tiền lương

10/10/2020 16:36

Bộ luật Lao động 2019 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 có thêm nhiều điểm mới nhằm đảm tốt hơn quyền lợi cho người lao động. Một trong những điểm mới được người lao động đặc biệt quan tâm đó là lương và thưởng.

Những quy định mới về tiền thưởng và tạm ứng tiền lương

Bộ luật Lao động 2019 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 có thêm nhiều điểm mới nhằm đảm bảo tốt hơn quyền lợi cho người lao động. Một trong những điểm mới được người lao động đặc biệt quan tâm đó là lương và thưởng.

Những quy định mới về tiền thưởng và tạm ứng tiền lương

Bổ sung thêm trường hợp người lao động tạm ứng tiền lương

Tại Điều 100 Bộ luật Lao động hiện hành quy định về vấn đề tạm ứng tiền lương cụ thể như sau:

“Người lao động được tạm ứng tiền lương theo điều kiện do hai bên thoả thuận.

Người sử dụng lao động phải tạm ứng tiền lương tương ứng với số ngày người lao động tạm thời nghỉ việc để thực hiện nghĩa vụ công dân từ 01 tuần trở lên nhưng tối đa không quá 01 tháng lương và phải hoàn lại số tiền đã tạm ứng trừ trường hợp thực hiện nghĩa vụ quân sự”.

Có nghĩa là người lao động chỉ được tạm ứng tiền lương nếu thuộc 02 trường hợp nêu trên.

Tuy nhiên, tại Bộ luật Lao động 2019 đã có những thay đổi nhất định và quy định thêm 01 trường hợp người lao động được quyền tạm ứng tiền lương nâng tổng số các trường hợp lên thành 03, cụ thể:

“Khi nghỉ hằng năm, người lao động được tạm ứng một khoản tiền ít nhất bằng tiền lương của những ngày nghỉ”.

Tại điều này cũng khẳng định việc tạm ứng tiền lương là quyền của người lao động bằng cách nhấn mạnh tại khoản 1 “Người lao động được tạm ứng tiền lương theo điều kiện do hai bên thỏa thuận và không bị tính lãi”.

Ngoài ra cũng bổ sung thêm trường hợp không được tạm ứng tiền lương nếu “Người lao động nhập ngũ theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự”.

Những quy định mới về tiền thưởng và tạm ứng tiền lương

Những quy định mới về tiền thưởng và tạm ứng tiền lương

Những quy định mới về tiền thưởng và tạm ứng tiền lương

Người lao động được tạm ứng lương tối đa bao nhiêu?

Với mỗi trường hợp nêu trên, người lao động sẽ được tạm ứng tiền lương với một mức khác nhau.

Cụ thể, trường hợp hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán mà công việc phải làm trong nhiều tháng. Để bảo vệ quyền lợi cho người sử dụng lao động tại Khoản 3, Điều 97 Bộ luật Lao động 2019 nêu rõ: Hàng tháng, người lao động được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng. Điều này đồng nghĩa với việc, mức lương tạm ứng sẽ phụ thuộc vào khối lượng, số lượng công việc người lao động đã làm trong tháng. Và theo cách người lao động làm nhiều ứng nhiều, làm ít ứng ít.

Khi nghỉ hàng năm, người lao động được tạm ứng một khoản tiền ít nhất bằng tiền lương của những ngày nghỉ.

- Trường hợp thực hiện nghĩa vụ công dân: Về trường hợp này, Khoản 2, Điều 101 Bộ luật Lao động 2019 nêu: Mức lương tạm ứng tương ứng với số ngày người lao động tạm thời nghỉ việc để thực hiện nghĩa vụ công dân từ 1 tuần trở lên nhưng tối đa không quá 1 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

- Trường hợp nghỉ hàng năm: Khi nghỉ hàng năm, người lao động được tạm ứng một khoản tiền ít nhất bằng tiền lương của những ngày nghỉ.

Trong đó, theo Điều 113 Bộ luật Lao động 2019, người lao động làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hàng năm: 12 ngày làm việc nếu làm công việc trong điều kiện bình thường; 14 ngày làm việc nếu là lao động chưa thành niên, người khuyết tật, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; 16 ngày làm việc nếu làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.

Nếu làm việc chưa đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hàng năm được tính theo tỉ lệ tương ứng với số tháng làm việc. Pháp luật chỉ quy định mức lương tạm ứng tối thiểu trong trường hợp này mà không quy định mức tối đa. Do đó, người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để tạm ứng số tiền lớn hơn tiền lương của những ngày nghỉ.

- Trường hợp tạm đình chỉ công việc: Để người lao động có khoản thu nhập trong những ngày bị tạm đình chỉ công việc, pháp luật cho phép người lao động được tạm ứng 50% tiền lương trước khi bị đình chỉ công việc. Nếu có bị xử lý kỷ luật lao động thì người lao động cũng không phải trả lại số tiền lương đã tạm ứng.

- Trường hợp thỏa thuận: Khoản 1, Điều 101 Bộ luật Lao động 2019 ghi nhận sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động trong việc tạm ứng tiền lương về điều kiện cũng như mức tạm ứng. Trên cơ sở này, pháp luật không hạn chế mức tối đa mà người lao động được tạm ứng. Tuy nhiên, người sử dụng lao động không được tính lãi với số tiền tạm ứng này.

Những quy định mới về tiền thưởng và tạm ứng tiền lương

Tiền thưởng cho người lao động có thể không phải bằng tiền

Theo Bộ luật Lao động năm 2019, thưởng là số tiền hoặc tài sản hoặc bằng các hình thức khác mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh, mức độ hoàn thành công việc của người lao động.

Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.

Như vậy, thay vì chỉ được thưởng cho người lao động bằng tiền, trong Bộ luật Lao động năm 2019 đã mở rộng các hình thức thưởng khác, cho phép người sử dụng lao động có thể thưởng cho người lao động bằng hiện vật như chính hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp…

Tại Điều 94 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động.

Trường hợp người lao động không thể nhận lương trực tiếp thì người sử dụng lao động có thể trả lương cho người được người lao động ủy quyền hợp pháp.

Trước đó, nội dung này không được quy định tại Bộ luật Lao động 2012.

Cũng tại Điều 94 của Bộ luật này, người sử dụng lao động không được hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động; không được ép buộc người lao động chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định.

Bộ luật Lao động năm 2019 yêu cầu mỗi lần trả lương, người sử dụng lao động phải thông báo bảng kê trả lương người lao động, trong đó ghi rõ: Tiền lương; Tiền lương làm thêm giờ; Tiền lương làm việc vào ban đêm; Nội dung và số tiền bị khấu trừ (nếu có)… Quy định mới này nhằm đảm bảo tính minh bạch khi trả lương cho người lao động.

Những quy định mới về tiền thưởng và tạm ứng tiền lương

Bài: Mai Liễu