Thứ hai 27/09/2021 19:57
npk-phu-my
banner-trai-xinh-gai-dep

Quan điểm của Lê-nin về vai trò của công đoàn và sự vận dụng vào điều kiện ở nước ta

Nghiên cứu - Trao đổi - TS. Mai Thị Hồng Liên - TS. Nguyễn Hùng Vương

Nghị quyết số 02-NQ/TW, ngày 12/06/2021 của Bộ Chính trị Về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới là văn bản cực kỳ quan trọng chỉ đạo hoạt động của tổ chức Công đoàn Việt Nam trong các thập kỷ tới. Nhân dịp này, chúng ta cùng điểm lại một số quan điểm của V.I.Lê-nin về vai trò của công đoàn trong thời kỳ quá độ để vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta, góp phần thắng lợi đưa Nghị quyết 02-NQ/TW vào cuộc sống.
Quan điểm của Lê-nin về vai trò của công đoàn và sự vận dụng vào điều kiện ở nước ta

Lãnh tụ V.I.Lê-nin. Ảnh: Tư liệu

Lực lượng bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động

Sau Cách mạng Tháng Mười, kỷ nguyên hòa bình và CNXH được mở ra. Trong điều kiện chủ nghĩa tư bản, tổ chức công đoàn đã mất đi cơ sở giai cấp để bảo vệ quyền lợi của NLĐ và đấu tranh cho quyền lực nhà nước. Nhà nước XHCN là người bảo vệ lợi ích của quần chúng lao động. Câu hỏi đặt ra là, trong điều kiện xã hội mới đó, tổ chức Công đoàn có tiếp tục tồn tại và nó sẽ đóng vai trò như thế nào? Điều này tạo ra cuộc tranh luận sôi nổi trong nội bộ Đảng Cộng sản Nga sau năm 1922. Trong cuộc tranh luận này, Lê-nin đã hoàn thiện lý luận về công đoàn XHCN của mình, và khẳng định quan điểm công đoàn vẫn có nhiệm vụ và vai trò quan trọng bảo vệ lợi ích của quần chúng lao động.

Lê-nin cho rằng: “Trước hết, nhà nước vô sản của chúng ta có đặc điểm đặc biệt là phần lớn dân cư không phải là công nhân mà là nông dân, thứ hai, nhà nước vô sản này cũng còn tồn tại tệ quan liêu” [1, tr.237]. Do đó, “Đất nước của chúng ta bây giờ là như vậy, và giai cấp vô sản có tổ chức nên tự bảo vệ mình, và chúng ta phải sử dụng các tổ chức công nhân để bảo vệ công nhân trước những hành vi vi phạm của chính nhà nước chúng ta, đồng thời, các tổ chức của công nhân được sử dụng nhằm tổ chức công nhân tham gia bảo vệ đất nước. Cả hai biện pháp bảo vệ này phải đạt được thông qua phương thức đặc biệt, đó là sự kết hợp các quốc sách của nhà nước cùng với sự tham vấn của tổ chức Công đoàn” [1, tr.204-205]. Thảo luận trên cho thấy quan điểm của Lê-nin rằng, do sự tồn tại của tệ quan liêu trong bộ máy nhà nước chưa được loại bỏ nên tổ chức Công đoàn cần phải được tổ chức và phát triển để tiếp tục đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ lợi ích chính đáng cho NLĐ.

Quan điểm của Lê-nin về vai trò của công đoàn và sự vận dụng vào điều kiện ở nước ta

Lê-nin và những người thành lập Đảng công nhân xã hội dân chủ

Ngay sau đó, nước Nga bắt tay vào thực hiện “Chính sách kinh tế mới”, cho phép tư bản chủ nghĩa tồn tại và có điều kiện để phát triển. Lê-nin nhấn mạnh vai trò bảo vệ quyền lợi GCCN của tổ chức Công đoàn: “Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của tổ chức Công đoàn trong tương lai là làm mọi cách để bảo vệ lợi ích giai cấp của giai cấp vô sản khi giai cấp vô sản đấu tranh với tư bản. Nhiệm vụ này phải được tăng cường một cách công khai, và tổ chức của công đoàn phải được tổ chức lại, thay đổi hoặc bổ sung cho phù hợp (nên thiết lập, hay đúng hơn, nên thiết lập một ủy ban hòa giải, thành lập quỹ đình công, quỹ tương hỗ, … )” [2, tr.366]. Ở đây, Lê-nin không những chỉ ra nhiệm vụ hàng đầu của tổ chức Công đoàn trong thời kỳ này là bảo vệ lợi ích của giai cấp vô sản mà còn chỉ ra những biện pháp đổi mới và điều chỉnh tổ chức Công đoàn để đảm bảo vai trò nói trên.

Nhiệm vụ quan trọng của tổ chức Công đoàn

Sau khi thực hiện “Chính sách kinh tế mới”, Liên Xô đã xuất hiện hàng loạt mâu thuẫn mới. Lê-nin khẳng định việc giải quyết đúng đắn những mâu thuẫn có tính chất và loại hình khác nhau là nhiệm vụ quan trọng của tổ chức Công đoàn.

Trước hết, công đoàn là tổ chức thực hiện việc điều hòa, hóa giải mâu thuẫn giữa tư bản tư nhân và công nhân trong nhà nước vô sản. Trong các xí nghiệp tư bản tư nhân thực hiện “chế độ thuê mướn” và “chuyển nhượng”, chắc chắn sẽ dẫn đến tình trạng đối kháng về lợi ích giai cấp giữa NLĐ và nhà tư bản” [2, tr.366]. Công đoàn phải làm hết sức mình để bảo vệ quyền lợi về mọi mặt cho NLĐ, vì vậy công đoàn các xí nghiệp tư bản tư nhân phải thành lập ban hòa giải. Đồng thời, chúng ta không thể từ chối một cuộc đấu tranh quyết liệt khi cần thiết bằng hình thức đình công. Tuy nhiên, Lê-nin cũng nhấn mạnh rằng cách thức chính để tổ chức Công đoàn đấu tranh chống tư bản và bảo vệ lợi ích của NLĐ là không nên dựa hoàn toàn vào phong trào đình công. Phương pháp quan trọng nhất là hòa giải xung đột, có thể thực hiện khiếu nại lên các cơ quan nhà nước và dựa vào quyền lực nhà nước và pháp luật của nhà nước để bảo vệ NLĐ.

Quan điểm của Lê-nin về vai trò của công đoàn và sự vận dụng vào điều kiện ở nước ta
Lê-nin phát biểu trước các binh sĩ thuộc Hồng quân Liên Xô tại Quảng trường Đỏ ở Moskva ngày 25/5/1919.

Thứ hai. công đoàn là tổ chức giải quyết đúng đắn mâu thuẫn giữa nhà nước và doanh nghiệp, giữa quản lý doanh nghiệp và NLĐ. Do thực hiện “nguyên tắc thương mại”, một số cơ quan hành chính, doanh nghiệp thực hiện giảm đầu tư vào các hạng mục an toàn lao động, bảo hiểm và an sinh cho NLĐ. Theo đó, mâu thuẫn giữa nhà nước với xí nghiệp, quản trị xí nghiệp và quần chúng công nhân xuất hiện. Lê-nin cho rằng công đoàn có trách nhiệm làm trung gian hòa giải những mâu thuẫn đó; có trách nhiệm nhắc nhở, chỉnh đốn hiện tượng vì lợi ích doanh nghiệp mà bỏ qua phúc lợi cho NLĐ cũng như đảm bảo an toàn trong lao động tại các doanh nghiệp. Công đoàn phải thường xuyên kiểm tra, giám sát và khắc phục những hạn chế do tệ quan liêu của các cơ quan nhà nước, đồng thời tránh gây thiệt hại đến lợi ích của NLĐ do các cơ quan hành chính nhà nước gây ra.

Thứ ba, công đoàn đảm nhận tốt nhất việc điều hòa, giải quyết mâu thuẫn giữa quần chúng công nhân với những cá nhân hoặc người đại diện cho các cơ quan của nhà nước. Lê-nin tin rằng nếu xảy ra đình công ở một nước vô sản thì cả cơ quan nhà nước và tổ chức công đoàn đều phải chịu trách nhiệm. Để ngăn chặn tình trạng đình công xảy ra, bên cạnh việc không ngừng khắc phục những sai sót quan liêu trong cơ quan nhà nước, công đoàn có một vai trò đặc biệt. Ở mức độ nào, tổ chức công đoàn có thể có những chính sách mang tính chiến lược tầm xa để thực sự bảo vệ lợi ích của NLĐ và quần chúng về mọi mặt, loại bỏ kịp thời những nhân tố có thể gây ra xung đột, ngăn chặn có hiệu quả xung đột quần chúng có thể xảy ra trong doanh nghiệp nhà nước, là thước đo vô cùng quan trọng và chính xác để đo tính đúng đắn và hiệu quả của công tác công đoàn [2, tr.53]. Công đoàn không chỉ có trách nhiệm ngăn chặn xung đột mà còn có trách nhiệm đặc biệt là hóa giải các xung đột. Khi công đoàn làm trung gian hòa giải xung đột giữa NLĐ và các cơ quan của nhà nước thì công đoàn đó phải có bản sắc kép; không chỉ là “đại diện” của NLĐ, mà còn là “người hóa giải” giữa một số NLĐ và cá nhân đứng đầu hoặc đại diện cho các cơ quan nhà nước. Chỉ khi nào tổ chức công đoàn thực sự trở thành đại diện của NLĐ thì công đoàn mới thực sự trở thành trung gian hòa giải, tạo điều kiện giải quyết nhanh chóng mâu thuẫn giữa NLĐ với cá nhân các cơ quan nhà nước.

Quan điểm của Lê-nin về vai trò của công đoàn và sự vận dụng vào điều kiện ở nước ta

Công nhân Nhà máy Máy kéo Kharkov năm 1932

Ý nghĩa quan điểm của Lê-nin về công đoàn trong giai đoạn hiện nay

Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, thừa nhận chủ nghĩa tư bản và kinh tế tư bản như là điều kiện để xây dựng thành công CNXH thì xã hội vẫn tồn tại những mâu thuẫn mà Lê-nin đã từng chỉ từ những năm 1921 ở nước Nga Xô viết. Trong bối cảnh đó, vai trò của tổ chức Công đoàn luôn hết sức quan trọng.

Thực tế cho thấy, nhiều cuộc đình công diễn ra ở các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước thời gian qua do sự yếu kém của tổ chức Công đoàn. Công đoàn ở các doanh nghiệp này chưa thực sự là người đại diện cho quyền lợi của công nhân, chưa đổi mới theo kịp với yêu cầu của công nhân, không thu hút đại đa số công nhân tham gia, hoặc chưa có những chương trình tuyên truyền, giáo dục pháp luận, trình độ lý luận cho công nhân… do đó, tính hiệu quả của các tổ chức Công đoàn ở đây còn thấp.

Để làm tốt nhiệm vụ của mình, các tổ chức Công đoàn cần phải chú trọng công tác phát triển đoàn viên, thành lập CĐCS, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng. Nghiên cứu tổ chức lại các tổ chức CĐCS đang hoạt động kém hiệu quả, hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng hoạt động công đoàn, tập trung cho công tác thương lượng, ký kết TƯLĐTT. Cần tập trung các nguồn lực tài chính, tạo quỹ công đoàn ở quy mô quốc gia kịp thời xử lý các vấn đề an sinh cho công nhân, tiến hành đồng bộ công tác tài chính công đoàn theo hướng chuyên nghiệp, công khai, minh bạch, công bằng, hiệu quả. Tiếp tục tăng cường sự kết dính và công tác lãnh đạo của Đảng đối với các cấp tổ chức Công đoàn. Các cấp uỷ Đảng cần đổi mới phương thức lãnh đạo công đoàn, tạo bầu không khí dân chủ và tin cậy của CNVCLĐ với Đảng. Theo dõi, kiểm tra, giúp đỡ các cấp công đoàn phát huy mặt tốt, việc tốt, uốn nắn, khắc phục những lệch lạc, yếu kém trong hoạt động của công đoàn, không ngừng tìm kiếm, phát hiện các nhân tố xuất sắc trong công đoàn để bồi dưỡng, đào tạo đoàn viên trở thành người lãnh đạo công nhân xuất sắc. Đổi mới hình thức hoạt động đa dạng để tập hợp NLĐ, kết hợp chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể nhân dân, góp phần tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Quan điểm của Lê-nin về vai trò của công đoàn và sự vận dụng vào điều kiện ở nước ta

Lắp ráp tại Nhà máy kéo Stalingrad năm 1937

Trong điều kiện thực hiện chính sách kinh tế mới, tức là sử dụng chủ nghĩa tư bản để xây dựng đất nước XHCN, Lênin đã đưa ra những luận điểm rõ ràng, khoa học, thấy được tính chất của chính sách kinh tế mới và những mâu thuẫn xã hội mà nó gây ra, chỉ ra vai trò quan trọng của công đoàn trong việc bảo vệ lợi ích của quần chúng, hóa giải những mâu thuẫn xã hội, duy trì ổn định xã hội và đảm bảo lợi ích lâu dài của giai cấp vô sản. Do đó, nghiên cứu và tìm hiểu hệ thống lý luận về công đoàn trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay có ý nghĩa chỉ đạo to lớn.

Người dân Đà Nẵng trở về từ TP. HCM: Người dân Đà Nẵng trở về từ TP. HCM: "Vui mừng và cảm kích!"

Vừa đặt chân xuống Sân bay Quốc tế Đà Nẵng, anh Trần Văn Hoàng cho biết: “2 tháng nay, do ảnh hưởng của dịch bệnh ...

Hà Nội: Chuẩn bị hàng nghìn giường bệnh để điều trị các ca nhiễm Covid-19 Hà Nội: Chuẩn bị hàng nghìn giường bệnh để điều trị các ca nhiễm Covid-19

Khi các ca bệnh có thể tăng thêm, nhằm chuẩn bị các phương án “4 tại chỗ”, ngành Y tế TP Hà Nội đã chuẩn ...

Lựa chọn trong những ngày chống dịch Lựa chọn trong những ngày chống dịch

Bội thực giữa những thông tin trên mạng xã hội, tôi thích chia sẻ này của “người nổi tiếng” Minh rau “Cách tốt nhất để ...

Chia sẻ

Tin cùng chuyên mục

Bảo đảm an toàn cho các nhân viên y tế trên tuyến đầu chống dịch

Nghiên cứu - Trao đổi -

Bảo đảm an toàn cho các nhân viên y tế trên tuyến đầu chống dịch

Sự bùng phát nhanh chóng của đại dịch Covid-19 đã biến các nhân viên y tế (NVYT) trở thành lực lượng tuyến đầu trong cuộc chiến ngăn chặn đại dịch. Do tính chất nghề nghiệp, hàng triệu NVYT đã và đang phải mạo hiểm sức khỏe cũng như sự an toàn của bản thân vì sức khỏe của cộng đồng. Nhận diện những rủi ro và đưa ra các giải pháp nhằm đảm bảo an toàn lao động (ATLĐ) và sức khỏe nghề nghiệp (SKNN) cho NVYT rất cần được ưu tiên trong giai đoạn hiện nay.

Covid-19 là một bệnh nghề nghiệp - Quan điểm và đề xuất

Nghiên cứu - Trao đổi -

Covid-19 là một bệnh nghề nghiệp - Quan điểm và đề xuất

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã phân loại bệnh nghề nghiệp thành 29 nhóm với hàng trăm bệnh khác nhau. Còn ở Việt Nam, danh mục các loại bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế chủ trì phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành sau khi lấy ý kiến của Tổng LĐLĐ Việt Nam và tổ chức đại diện người sử dụng lao động. Hiện ở Việt Nam mới có 34 bệnh nghề nghiệp được đưa vào danh mục bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm.

Sự giúp đỡ kịp thời cho doanh nghiệp và người lao động

Nghiên cứu - Trao đổi -

Sự giúp đỡ kịp thời cho doanh nghiệp và người lao động

Ngày 24/8/2021, Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã ban hành Quyết định số 3089/QĐ-TLĐ về hỗ trợ bữa ăn cho đoàn viên, người lao động thực hiện “3 tại chỗ” trên địa bàn các tỉnh, thành phố thực hiện giãn cách theo Chỉ thị 16/CT-TTg. Mức hỗ trợ là 1 triệu đồng/người và thời điểm thực hiện tính từ ngày 24/8/2021, thời điểm Quyết định có hiệu lực.

Lao động nữ làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất và vai trò của công đoàn

Nghiên cứu - Trao đổi -

Lao động nữ làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất và vai trò của công đoàn

Lao động nữ (LĐN) là nhóm lao động đặc thù, ngoài việc chịu điều chỉnh của pháp luật lao động như những NLĐ khác, quyền lợi của LĐN còn được điều chỉnh bởi các quy định riêng. LĐN làm việc tại các KCN, KCX có những đặc điểm riêng về điều kiện làm việc, nhu cầu chăm sóc sức khoẻ, ATVSLĐ, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi…

Hoạt động công đoàn khi Việt Nam tham gia Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới*

Nghiên cứu - Trao đổi -

Hoạt động công đoàn khi Việt Nam tham gia Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới*

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt là một số FTA thế hệ mới, trong đó có các điều khoản về tôn trọng và thúc đẩy các tiêu chuẩn lao động (TCLĐ) cơ bản của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Những cam kết tại các văn bản pháp lý quốc tế này đặt ra nhu cầu cấp thiết về hoàn thiện pháp luật quốc gia tiệm cận xu hướng tiến bộ của thế giới để điều chỉnh hài hòa các quan hệ lao động.

Mô hình phù hợp đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ

Nghiên cứu - Trao đổi -

Mô hình phù hợp đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến thời điểm 31/12/2018, trong số 610.637 doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh trên cả nước, có tới 98,1% là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ (từ 100 lao động trở xuống). Riêng doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ (từ 10 lao động trở xuống) có 382.444 doanh nghiệp, chiếm 62,6% số doanh nghiệp cả nước.

Đọc thêm

Thực tiễn về đối thoại xã hội trong quan hệ lao động

Nghiên cứu - Trao đổi -

Thực tiễn về đối thoại xã hội trong quan hệ lao động

Đối thoại xã hội (ĐTXH) là con đường quan trọng để thúc đẩy việc thực hiện hiệu quả các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động tại nơi làm việc.

Thực trạng tiền lương, thu nhập, đời sống của người lao động Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi -

Thực trạng tiền lương, thu nhập, đời sống của người lao động Việt Nam

Tiền lương là điều kiện vật chất để NLĐ sống và hành động. Điều kiện vật chất ngày càng đầy đủ, dư dả sẽ càng giải phóng con người khỏi những lo toan thường nhật. Thị trường lao động ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng lụy vào tiền lương nhiều hơn, và do đó, người ta càng chăm chú tìm những cơ sở sản xuất kinh doanh (SXKD) có thể lo được các mức lương khả dĩ hơn.

Phát huy vai trò của công đoàn trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Nghiên cứu - Trao đổi -

Phát huy vai trò của công đoàn trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị Về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới nêu rõ: “Xây dựng Công đoàn Việt Nam vững mạnh là góp phần quan trọng xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân và bảo vệ chế độ XHCN”.

Xây dựng giai cấp công nhân, Công đoàn Việt Nam vững mạnh

Nghiên cứu - Trao đổi -

Xây dựng giai cấp công nhân, Công đoàn Việt Nam vững mạnh

Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới khẳng định: “Xây dựng Công đoàn Việt Nam vững mạnh và xây dựng giai cấp công nhân (GCCN) Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới là trách nhiệm của Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội”. Đây là quan điểm hàng đầu trong việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong bối cảnh mới, dựa trên cơ sở lý luận sâu sắc và cơ sở thực tiễn sinh động.

Những vấn đề đặt ra đối với tổ chức và hoạt động công đoàn

Nghiên cứu - Trao đổi -

Những vấn đề đặt ra đối với tổ chức và hoạt động công đoàn

92 năm ra đời và phát triển, tổ chức Công đoàn Việt Nam ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị và bảo vệ quyền lợi người lao động (NLĐ). Song, việc thực hiện các cam kết về lao động trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đang đặt ra nhiều thách thức trong tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam.

Xem phiên bản di động